Tín hiệu tích cực về phát triển bảo hiểm xã hội từ đầu năm

Mai Lâm
(TBTCO) - Trong 2 tháng đầu năm 2024, đã có nhiều tín hiệu tích cực trong công tác thực hiện các chính sách về bảo hiểm xã hội khi các chỉ tiêu cơ bản đều tăng so với cùng kỳ.
aa
Tín hiệu tích cực về phát triển bảo hiểm xã hội từ đầu năm
Người dân đặt lịch làm việc với cơ quan Bảo hiểm xã hội. Ảnh: BHXH Việt Nam

Các nhóm chỉ tiêu chính đều tăng trưởng tốt

Báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho thấy, tính đến ngày 3/3/2024, cả nước có khoảng 17,69 triệu người tham gia BHXH, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, số người tham gia BHXH bắt buộc là 16,12 triệu người, tăng 2,32% và 1,56 triệu người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 13,66%; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đạt 14,41 triệu người, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm 2023. Số người tham gia BHYT đạt 90,15 triệu người tham gia BHYT, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm 2023. Số thu BHXH, BHYT ước tăng 2,49% so với cùng kỳ năm 2023, đạt 36.668 tỷ đồng. Lũy kế đến hết tháng 2 có 10.392 người được giải quyết chế độ BHXH hằng tháng; 939.139 lượt người hưởng chế độ ốm đau; 218.376 lượt người hưởng chế độ thai sản; 108.830 người hưởng trợ cấp thất nghiệp...

Mở rộng hệ thống tổ chức dịch vụ thu

Theo Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu, việc phát triển BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình trong năm 2024 sẽ còn gặp khó khăn. Do đó, Ban Quản lý Thu-Sổ thẻ phải tăng cường kiểm tra, đôn đốc BHXH các địa phương; tham mưu kiện toàn ban chỉ đạo; mở rộng hệ thống tổ chức dịch vụ thu; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người tham gia.

Có được kết quả tích cực trên, theo BHXH Việt Nam là nhờ trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển người tham gia; đôn đốc thu, giảm tiền chậm đóng BHXH, BHYT. Một trong những điểm được BHXH địa phương đặc biệt quan tâm là tiếp tục tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu bao phủ BHXH, BHYT vào nghị quyết của HĐND các cấp; đồng thời giao chỉ tiêu phát triển người tham gia đến cấp huyện, cấp xã.

Theo Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh, các kết quả mà ngành BHXH đạt được trong 2 tháng đầu năm đều tăng so với cùng kỳ, cho thấy một khởi đầu thuận lợi. Thời gian qua, toàn ngành đã rất trách nhiệm, nhiều nội dung công việc quan trọng đã được triển khai nhanh chóng, đặc biệt là trong việc đảm bảo quyền lợi cho người dân, người hưởng chính sách BHXH, BHYT.

“Với trách nhiệm là đảm bảo an sinh, ngành BHXH Việt Nam đã thực hiện tốt các nhiệm vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp, đặc biệt kịp thời tổ chức chương trình "Tặng sổ BHXH, thẻ BHYT cho người có hoàn cảnh khó khăn xuân Giáp Thìn" có tính lan toả trong xã hội và được nhân dân đón nhận” - ông Mạnh khẳng định.

Quyết liệt ngay từ đầu năm

Tín hiệu tích cực về phát triển bảo hiểm xã hội từ đầu năm
Ảnh minh họa.

Theo ông Dương Văn Hào - Trưởng ban Quản lý Thu - Sổ thẻ BHXH Việt Nam, công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN toàn ngành 2 tháng đầu năm đã có nhiều tín hiệu tích cực. Thời gian tới, toàn ngành cần tập trung tham mưu chính quyền địa phương xây dựng, hoàn thiện các nghị quyết về giao chỉ tiêu phát triển người tham gia; tham mưu ban chỉ đạo phát triển người tham gia BHXH, BHYT của tỉnh để chỉ đạo, giao chỉ tiêu cho ban chỉ đạo các cấp, đặc biệt là chỉ tiêu về BHYT; tham mưu, huy động sự vào cuộc của các cấp, doanh nghiệp, xã hội có thêm các chính sách, cơ chế hỗ trợ cho người khó khăn được tham gia BHXH, BHYT. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các tổ chức dịch vụ thu trên địa bàn để khai thác người tăng mới và tái tục; linh hoạt các phương thức đóng để tạo thuận lợi cho người tham gia...

Về giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện trong thời gian tới, ông Hào cho biết, sẽ chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện quyết liệt hơn các văn bản chỉ đạo của BHXH Việt Nam, đẩy mạnh công tác truyền thông, tăng cường thanh tra - kiểm tra, xây dựng phần mềm số để xác định rõ hơn số liệu thu. Cùng với đó, tổ chức các hội nghị chia sẻ kinh nghiệm các mô hình để các địa phương tổ chức thực hiện; tiếp tục tổ chức đào tạo cho các nhân viên dịch vụ thu… từ đó phát triển bền vững người tham gia BHXH, BHYT.

Còn theo Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, dù các chỉ tiêu chủ yếu của ngành ngay từ đầu năm đều tăng so với cùng kỳ, nhưng các khó khăn, thách thức của năm 2024 là không ít nên toàn ngành không được lơ là, chủ quan.

Vì vậy, tư lệnh ngành BHXH yêu cầu, toàn ngành tiếp tục bám sát chủ trương, đường lối, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về chính sách BHXH, BHYT; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành trong xây dựng, hoàn thiện các Luật liên quan đến nhiệm vụ của Ngành thời gian tới. Trong đó, chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố khẩn trương, tăng cường công tác tham mưu huy động sự vào cuộc của các cấp trong thực hiện chính sách BHXH, BHYT; giao được chỉ tiêu đến từng cấp xã, phường, đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Ông cũng nhấn mạnh, các đơn vị cần phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, rà soát các kế hoạch, chương trình còn tồn đọng để ban hành kịp thời. Trong đó, trọng tâm là triển khai thực hiện tốt nhất, đảm bảo quyền lợi cho người dân, người lao động, đặc biệt chú trọng đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân KCB BHYT; tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở y tế thuộc thẩm quyền của ngành và phối hợp, tham mưu tháo gỡ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan.

Đặc biệt, quyết liệt đôn đốc các đơn vị còn chậm đóng, nợ đóng, tiến hành thanh tra đột xuất, thanh tra thường xuyên nhằm giảm nợ; đẩy mạnh đào tạo nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ thanh tra; đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách BHXH, BHYT, truyền thông dịch vụ công toàn ngành, chuyển đổi số như công tác CCHC. “Các đơn vị cần chủ động, tăng cường hơn nữa kỷ cương kỷ luật, phân công rõ người, rõ việc và gắn trách nhiệm người đứng đầu…” - ông Nguyễn Thế Mạnh yêu cầu./.

Mai Lâm

Đọc thêm

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 15,900
Kim TT/AVPL 15,600 15,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 15,900
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 15,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 15,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 159,000
Hà Nội - PNJ 156,000 159,000
Đà Nẵng - PNJ 156,000 159,000
Miền Tây - PNJ 156,000 159,000
Tây Nguyên - PNJ 156,000 159,000
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 159,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
NL 99.90 14,250 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,300 ▲50K
Trang sức 99.9 15,040 ▼50K 15,740 ▼50K
Trang sức 99.99 15,050 ▼50K 15,750 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 15,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 15,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 1,588
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 1,589
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 1,573
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 155,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 118,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 107,125
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 96,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 91,865
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 65,751
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cập nhật: 31/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80