Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội:

Vượt khó khăn, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân Thủ đô

Ngọc Dũng
(TBTCO) - Năm 2021 với những thách thức, khó khăn rất lớn của đại dịch Covid-19, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch và nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần ổn định an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
aa

Nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch

Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) thành phố Hà Nội, tính đến hết năm 2021, toàn thành phố có 7.482.132 người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), tăng 243.038 người (tăng 3,36%) so với năm 2020, đạt 100,9% kế hoạch và đạt tỷ lệ bao phủ 91,8% dân số; có 1.863.073 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 65.736 người (tăng 3,66%) so với năm 2020, đạt 100,07% kế hoạch; có 1.798.166 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), tăng 65.388 người (tăng 3,77%) so với năm 2020, đạt 100,07% kế hoạch. Đáng chú ý, có 63.304 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 14.630 người (tăng 30,06%) so với năm 2020, đạt 100,21% kế hoạch và vượt 0,3% so với chỉ tiêu HĐND thành phố giao.

Vượt khó khăn, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân Thủ đô
Lễ ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trong năm đã khai thác, phát triển mới được 6.220 đơn vị với 26.268 lao động. Số đơn vị tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là 95.980 đơn vị với 1.850.006 lao động. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN năm 2021 tăng 4% so với năm 2020, đạt 100,3% kế hoạch.

Năm 2021, công tác giải quyết các chế độ BHXH, BHYT trên địa bàn được đảm bảo an toàn, chính xác, đúng quy định. Trong đó, toàn thành phố giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho 800.411 lượt người, với số tiền 6.948,51 tỷ đồng. Đặc biệt, công tác chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng được đảm bảo đến tận tay đối tượng thông qua hệ thống bưu điện và qua tài khoản thẻ ATM. Trong thời gian dịch bệnh, BHXH thành phố đã thực hiện đa dạng, linh hoạt các phương thức chi trả (chi trả gộp 2 tháng, chi trả tại nhà) đẩy mạnh chi trả qua tài khoản ATM. Năm 2021, BHXH thành phố thực hiện chi lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng cho 573.549 người hưởng, với tổng số tiền 33.611 tỷ đồng...

Bên cạnh đó, BHXH thành phố đã ứng dựng hiệu quả công nghệ thông tin, liên thông, kết nối giữa các phần mềm nghiệp vụ, thực hiện quyết toán trên phần mềm kế toán tập trung đảm bảo tiến độ và chất lượng. Đơn vị thực hiện cải cách thủ tục hành chính, giao dịch hồ sơ điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin được đẩy mạnh; duy trì niêm yết công khai thủ tục hành chính; công khai đường dây nóng, hòm thư góp ý, hỏi đáp trực tuyến; thực hiện giao dịch hồ sơ điện tử đạt 99,53%.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều tháng liền TP. Hà Nội phải thực hiện giãn cách xã hội, nhiều nhiệm vụ không thể triển khai như kế hoạch đề ra, BHXH thành phố vẫn hoàn thành tất cả các nhiệm vụ được giao, đặc biệt đã hoàn thành vượt mức ba nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là: phát triển người tham gia BHXH, BHYT; công tác thu; công tác chi trả chế độ. Điều đó không chỉ khẳng định sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của tập thể lãnh đạo BHXH thành phố, mà còn khẳng định sự nỗ lực vượt bậc của tập thể công chức, viên chức, người lao động toàn hệ thống.

Triển khai thành công nhiều nhiệm vụ quan trọng

Hà Nội: Gần 3,9 triệu người đăng ký giao dịch điện tử với cơ quan bảo hiểm

Triển khai chủ trương của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam về đẩy mạnh số lượng người sử dụng ứng dụng VssID-Bảo hiểm xã hội số, ngay từ đầu năm 2021, Bảo hiểm xã hội thành phố đã phân công cán bộ, viên chức phụ trách hướng dẫn, hỗ trợ người lao động tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, học sinh sinh viên, lao động tự do, người hưởng lương hưu cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID. Đến nay, toàn thành phố có gần 3,9 triệu người đăng ký giao dịch điện tử với cơ quan Bảo hiểm xã hội và được cấp tài khoản sử dụng ứng dụng VssID. Bảo hiểm xã hội TP. Hà Nội là đơn vị có số người cài đặt ứng dụng VssID lớn nhất toàn quốc, đạt 124,77% kế hoạch được Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao.

Năm 2021, BHXH TP Hà Nội đã triển khai thành công nhiều chính sách quan trọng của Đảng, Chính phủ và của ngành BHXH. Theo đó, thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ, BHXH thành phố đã hoàn thành việc điều chỉnh giảm mức đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với 87.516 doanh nghiệp, tương ứng 1.447.150 lao động, với số tiền là hơn 643 tỷ đồng, hoàn thành ngày 10/7/2021. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với 156 đơn vị tương ứng 12.119 lao động, số tiền 91,8 tỷ đồng.

Đối với việc thực hiện Nghị quyết 116/NQ-CP của Chính phủ, việc triển khai chính sách đòi hỏi phải thực hiện sớm, nhanh chóng, chính xác và kịp thời. Để đảm bảo chi trả hỗ trợ đúng mức tiền, đúng đối tượng cho hơn 1,6 triệu người lao động trong thời gian 3 tháng cuối năm, BHXH thành phố đã huy động đội ngũ cán bộ, viên chức làm thêm giờ, làm đêm, hầu như không có ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật. BHXH thành phố Hà Nội đã tập trung mọi nguồn lực thực hiện, tạo nên những dấu ấn trong công tác đảm bảo an sinh cho người dân Thủ đô.

Cụ thể, BHXH thành phố đã gửi thông báo tới 84.510 đơn vị giảm mức đóng BHTN, với số tiền giảm 12 tháng là 1.177,6 tỷ đồng, (hoàn thành ngày 4/10/2021). Nhằm tạo điều kiện cho người lao động nhận tiền hỗ trợ từ Quỹ BHTN, BHXH thành phố đã chủ động rà soát, phân loại dữ liệu, gửi danh sách người lao động cho 84.510 đơn vị với 1.366.703 lao động để phối hợp thực hiện. Đặc biệt, việc chi hỗ trợ được thực hiện chủ yếu qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, thời gian giải quyết được rút ngắn một nửa so với quy định của Chính phủ. Đến ngày 31/12/2021, đơn vị đã chi trả hỗ trợ cho hơn 1,6 triệu lao động, với số tiền chi trả là 4.094 tỷ đồng.

Phát triển người tham gia BHXH tự nguyện trọng bối cảnh người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì dịch Covid-19 là nhiệm vụ không dễ dàng. Vượt qua khó khăn, BHXH thành phố đã sáng tạo, triển khai mô hình xã điểm về thu BHXH tự nguyện. UBND quận, huyện, thị xã lựa chọn trên địa bàn quản lý 1 xã, phường, thị trấn có một trong các lợi thế như có điều kiện về kinh tế, có hoạt động phong trào phát triển mạnh, có sự quan tâm tích cực về chính sách BHXH, BHYT của cấp ủy, chính quyền cơ sở, xã nông thôn mới… Kết quả bình quân mỗi xã điểm phát triển được số người tham gia BHXH tự nguyện gấp 3,5 lần bình quân 1 xã, phường, thị trấn.

Theo ông Nguyễn Đức Hòa - Giám đốc BHXH thành phố Hà Nội, trong năm 2021 nhiều chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành và hoàn thành vượt, nhưng chặng đường trước mắt còn nhiều khó khăn, nguồn lực dư địa phát triển còn nhiều nên cán bộ, viên chức trong hệ thống cần tiếp tục cố gắng, nỗ lực không ngừng, phấn đấu hoàn thành mọi chỉ tiêu được giao.

Trong đó, BHXH thành phố tiếp tục bám sát chỉ đạo của BHXH Việt Nam, của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố, chủ động phối hợp hiệu quả với các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện, thị xã triển khai thực hiện linh hoạt các giải pháp, thích ứng với diễn biến, tình hình dịch bệnh để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao; triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển người tham gia BHXH, BHYT; phân công nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, viên chức tập trung đôn đốc thu, giảm nợ; thường xuyên rà soát cơ sở dữ liệu người người chưa tham gia để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động người tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình.

Nhiều thành tích được khen tặng

Với những kết quả đã đạt được, năm 2020, Bảo hiểm xã hội thành phố được Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ Thi đua của Chính phủ. Năm 2021, Bảo hiểm xã hội thành phố được Thành ủy Hà Nội tặng Bằng khen về thành tích xuất sắc trong thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Ông Nguyễn Đức Hòa - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bảo hiểm xã hội thành phố được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2021; Bảo hiểm xã hội Việt Nam biểu dương về thành tích xuất sắc trong tổ chức, thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…

Ngọc Dũng

Đọc thêm

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

“Trọn Vạn Dặm An” - chương trình tri ân lớn nhất năm của Bảo Việt Nhân thọ với cơ hội trúng ô tô VinFast hấp dẫn

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Bảo Việt Nhân thọ chính thức triển khai chương trình tri ân lớn nhất năm - “Trọn Vạn Dặm An”, với tổng giá trị quà tặng lên đến 11 tỷ đồng cùng hàng loạt giải thưởng hấp dẫn như ô tô và xe máy điện VinFast dành cho khách hàng trên toàn quốc.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 15,850
Kim TT/AVPL 15,550 15,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 15,850
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 15,500
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 15,480
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 155,500 158,500
Hà Nội - PNJ 155,500 158,500
Đà Nẵng - PNJ 155,500 158,500
Miền Tây - PNJ 155,500 158,500
Tây Nguyên - PNJ 155,500 158,500
Đông Nam Bộ - PNJ 155,500 158,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 15,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 15,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 1,583
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 1,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 1,568
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 155,248
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 117,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 106,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 95,808
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 91,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 65,542
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 1,585
Cập nhật: 02/06/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18347 18623 19204
CAD 18509 18786 19405
CHF 32896 33281 33941
CNY 0 3849 3942
EUR 30023 30296 31327
GBP 34617 35009 35947
HKD 0 3227 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15945
SGD 20054 20337 20867
THB 723 786 840
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26172 26172 26394
AUD 18543 18643 19568
CAD 18696 18796 19810
CHF 33164 33194 34777
CNY 3830.7 3855.7 3990.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30214 30244 31967
GBP 34923 34973 36731
HKD 0 3355 0
JPY 161.54 162.04 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20217 20347 21075
THB 0 752.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/06/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80