Chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp: Kỳ vọng triển khai hiệu quả tại 3 tỉnh Tây Nguyên

Chu Duy
(TBTCO) - Từ ngày 17 – 19/8/2022, Đoàn Công tác của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính đã có buổi làm việc với UBND 3 tỉnh Tây Nguyên, gồm Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông về tình hình triển khai thực hiện Nghị định 58/2018/NĐ-CP và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp. Tham gia Đoàn công tác có ông Nguyễn Quang Huyền – Phó Cục trưởng, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, cùng đại diện Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam và các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp. Về phía các địa phương có sự tham dự của lãnh đạo Sở Tài chính, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...
aa

Các địa phương đã bước đầu vào cuộc

Tại các buổi làm việc, đại diện lãnh đạo các Sở đã thông tin tới Đoàn công tác về tình hình triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp tại từng địa phương. Theo Quyết định 13/2022/QĐ-TTg, các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông được áp dụng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng là cao su, cà phê, hồ tiêu, điều và đối với vật nuôi là trâu, bò và lợn. Thông tin tại các buổi làm việc, các địa phương bước đầu bắt tay xây dựng Kế hoạch triển khai và Quyết định phê duyệt địa bàn hỗ trợ phí bảo hiểm; đồng thời đã có sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, địa phương tăng cường tuyên truyền, giải thích chính sách để người nông dân hiểu và tham gia.

Theo ông Đặng Công Lâm – Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Gia Lai, trong thời gian tới, các Sở sẽ tiếp tục hoàn thiện tham mưu cho UBND tỉnh về việc triển khai chính sách này; tổ chức tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp thực hiện chính sách trên địa bàn. Ngoài ra, Sở cũng sẽ tổng hợp những khó khăn vướng mắc để báo cáo UBND tỉnh sớm có chỉ đạo để triển khai mang lại hiệu quả cao nhất trên thực tiễn.

Toàn cảnh buổi làm việc của Đoàn công tác tại tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Duy Thái
Toàn cảnh buổi làm việc của Đoàn công tác tại tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Duy Thái

Ông Nguyễn Tấn Thành – Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Đắk Lắk cũng cho biết, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành văn bản chỉ đạo, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị, địa phương để triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp. Đến nay, cơ bản các huyện thị xã, thành phố đã triển khai văn bản và chủ động nghiên cứu, thực hiện các nội dung theo thẩm quyền.

“Đối với việc lựa chọn địa bàn, hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng và lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị liên quan trình UBND tỉnh phê duyệt danh sách các xã trên địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Dự kiến địa bàn được hỗ trợ sẽ gồm 10 huyện và 55 xã tham dự. Đây là một kỳ vọng lớn của tỉnh, tuy nhiên, dự kiến sẽ chọn các địa bàn để triển khai thí điểm, từ đó hoàn thiện dần để nhân rộng” – ông Nguyễn Tấn Thành cho biết và nhấn mạnh.

Ông Nghiêm Hồng Quang – Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Đắk Nông cũng thông tin: “Tiềm năng phát triển nông nghiệp của Đắk Nông là rất lớn, do vậy, phải khẳng định nếu triển khai hiệu quả thì chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp tại địa bàn tỉnh sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nông dân. Sở Tài chính sẽ phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tham mưu UBND tỉnh để sớm ban hành các văn bản triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp trên địa bàn.

Vai trò của các cấp chính quyền địa phương rất quan trọng

Tại các buổi làm việc, đại diện Đoàn công tác đã thông tin cụ thể về cơ sở pháp lý triển khai, cũng như những kết quả đạt được và một số vướng mắc trong việc triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp trong thời gian qua.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Quang Huyền cho biết, thời gian qua, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu, xây dựng và ban hành đầy đủ hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp theo quy định tại Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg, Quyết định số 03/2021/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg. Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương đã tích cực trong việc đôn đốc triển khai thực hiện; chủ động giám sát tình hình, thường xuyên tổ chức các đoàn công tác liên ngành làm việc thực tế tại nhiều địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp để nắm bắt thực tế, kịp thời giải đáp các vướng mắc về chính sách theo thẩm quyền.

Xây dựng sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phù hợp, hài hòa

Các sản phẩm bảo hiểm cần được xây dựng đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật; lấy nông dân làm trung tâm với các quy định đảm bảo rõ ràng, minh bạch về quyền lợi, trách nhiệm, điều kiện bảo hiểm; mức phí bảo hiểm không chỉ phù hợp với điều kiện, mức trách nhiệm bảo hiểm mà còn đảm bảo phù hợp với khả năng chi trả của người nông dân và đảm bảo khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

Cũng theo ông Nguyễn Quang Huyền, thời gian qua, nhiều địa phương đã chủ động vào cuộc, nhưng do đây là chính sách mới, phức tạp lại đặt trong bối cảnh điều kiện sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chưa cao, đặc biệt là tác động từ dịch Covid-19,... nên việc triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp mới chỉ đạt được những kết quả ban đầu.

Về mặt sản phẩm, đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng thông tin, hiện các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia bảo hiểm nông nghiệp đang phối hợp với các địa phương để lấy dữ liệu thực tế, gấp rút hoàn thiện các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phù hợp. Các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đang xây dựng sẽ kế thừa các sản phẩm đã triển khai thực tế, đồng thời sẽ bổ sung những điểm mới. Đại diện Đoàn công tác mong muốn, các địa phương, đoàn thể trên địa bàn đặt quyết tâm cao, phối hợp chặt chẽ để đẩy mạnh triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, tại các buổi làm việc, đại diện Bảo hiểm Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo hiểm Quân đội và Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam cũng đã thông tin về kế hoạch triển khai và thiết kế sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. Các doanh nghiệp cũng bày tỏ mong muốn nhận được sự hỗ trợ, đồng hành của các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn để triển khai bảo hiểm nông nghiệp có hiệu quả trên thực tiễn.

Chu Duy
Chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp:

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80