Chủ hộ kinh doanh sẽ phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Mai Lâm
(TBTCO) - Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đề xuất bổ sung đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mới như: chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc không trọn thời gian. Điều này sẽ giúp các đối tượng tham gia được đảm bảo bởi “lưới an sinh", giảm áp lực trong việc đảm bảo an sinh xã hội khi họ đến tuổi nghỉ hưu, hoặc đến tuổi hưởng trợ giúp xã hội.
aa

Chưa tới 40% lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm

Nghị quyết 28-NQ/TW (Nghị quyết 28) năm 2018 về cải cách bảo hiểm xã hội (BHXH) đặt ra mục tiêu đến năm 2025 phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, đến năm 2030 có khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH. Tuy nhiên, thống kê cho thấy, tính đến hết năm 2022 và 2 tháng đầu năm 2023, cả nước mới chỉ có khoảng trên 37% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, vẫn còn 28,42 triệu người chưa tham gia (khoảng 62% lực lượng lao động trong độ tuổi). Vì vậy, mục tiêu bao phủ BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 28 là một thách thức rất lớn nếu không có những giải pháp căn bản về cả chính sách và công tác tổ chức thực hiện chính sách.

Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tới các tiểu thương tại Hà Nội. Ảnh: BHXH HÀ NỘI
Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tới các tiểu thương tại Hà Nội. Ảnh: BHXH Hà Nội

Theo đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), qua tổng kết thi hành cho thấy, pháp luật BHXH bắt buộc còn bỏ sót một số nhóm đối tượng có nhu cầu và có khả năng nhưng chưa thực hiện, chưa được luật hóa để tham gia BHXH bắt buộc như: chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt. Hiện cả nước có hơn 5,1 triệu hộ kinh doanh cá thể, gấp 6 lần số lượng doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay nhóm này chưa thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, chỉ có rất ít chủ hộ kinh doanh cá thể hiện đang tham gia BHXH tự nguyện.

Bên cạnh đó, thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính đến hết năm 2022, cả nước có khoảng 29.000 hợp tác xã hoạt động, thu hút gần 6 triệu thành viên tham gia, trong đó có 970.000 người lao động làm việc trong khu vực hợp tác xã. Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan BHXH thì hiện nay mới chỉ có gần 7.000 hợp tác xã đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho khoảng 40.000 người lao động. Bộ LĐTBXH cho biết, theo kết quả khảo sát tại một số địa phương, nhiều người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương có nguyện vọng tham gia BHXH bắt buộc.

Người dân thêm bảo vệ từ “lưới an sinh”

Nhằm thể chế hóa mục tiêu Nghị quyết 28 và nguyện vọng của nhiều người lao động trong khu vực phi chính thức, tại dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), Điều 31 đã bổ sung đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc bao gồm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc không trọn thời gian.

Đánh giá tác động của đề xuất đối với đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách, Bộ LĐTBXH cho biết, có khoảng 5,1 triệu hộ chủ thể chủ hộ kinh doanh cá thể hiện nay sẽ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Theo đó, mỗi cá nhân chủ hộ sẽ phát sinh kinh phí đóng BHXH 25% (trong đó 22% vào quỹ hưu trí tử tuất, 3% vào quỹ ốm đau thai sản), trong khoảng từ 500 nghìn đồng/tháng cho đến 9 triệu đồng/tháng (tương đương từ 6 triệu đồng đến 108 triệu đồng/năm). Đối với người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, cũng giống như đối với nhóm đối tượng chủ hộ kinh doanh cá thể, mỗi cá nhân thuộc đối tượng nêu trên sẽ phát sinh kinh phí đóng BHXH (25%). Mức kinh phí cụ thể phụ thuộc vào mức đóng do người tham gia là chủ hộ kinh doanh lựa chọn tham gia dựa trên khả năng đóng góp. Tuy nhiên, bù lại người tham gia là chủ kinh doanh cá thể, người quản lý doanh nghiệp, người điều hành hợp tác xã sẽ được bảo vệ khỏi những rủi ro, được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, mức hưởng tương đương với mức đóng góp.

Đối với người làm việc không trọn thời gian, người lao động và người sử dụng lao động sẽ phải đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất (người lao động đóng 8%; người sử dụng lao động đóng 14%), quỹ ốm đau thai sản (người sử dụng lao động 3%) trên tiền lương của người lao động. Theo đánh giá của Bộ LĐTBXH, việc này sẽ làm phát sinh thêm chi phí cho người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, bù lại, người lao động và người sử dụng lao động đều nhận được lợi ích từ việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH.

Cũng theo Bộ LĐTBXH, việc thực hiện chính sách sẽ giúp mở rộng diện bao phủ BHXH, đảm bảo mục tiêu phát triển đối tượng tham gia theo yêu cầu của Nghị quyết 28, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, hướng đến BHXH toàn dân. Việc mở rộng đối tượng tham gia như trên sẽ giúp Nhà nước giảm áp lực trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho những người lao động này khi họ đến tuổi nghỉ hưu hoặc đến tuổi hưởng trợ giúp xã hội.

Đối tượng mở rộng sẽ làm tăng nguồn thu

Đánh giá tác động của việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), cơ quan soạn thảo cho biết, đối với quỹ BHXH, đối tượng tham gia mở rộng sẽ làm tăng nguồn thu vào quỹ. Tuy nhiên, điều này cũng làm tăng nguồn chi từ quỹ trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong trung hạn, việc gia tăng đối tượng tham gia sẽ giúp cải thiện khả năng cân đối tài chính của quỹ, trong dài hạn thì cần phải xem xét, đánh giá cụ thể hơn theo từng quỹ thành phần, đặc biệt là đối với quỹ hưu trí, tử tuất do vấn đề nợ lương hưu tiềm ẩn, số người tham gia càng nhiều, số nợ lương hưu tiềm ẩn càng lớn.

Mai Lâm

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 15/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80