Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hội thảo lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp Luật số 68/2025/QH15 (Luật số 68) do Bộ Tài chính tổ chức ngày 9/7 nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và tạo thuận lợi trong việc xếp loại doanh nghiệp.
aa
Từ 1/8/2025, doanh nghiệp nhà nước được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ Doanh nghiệp nhà nước phải góp phần vào mục tiêu tăng trưởng 8% Xây dựng các nghị định tạo bước chuyển mới trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đánh giá, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một luật lớn, có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và VNPT nói riêng.

Đề xuất tạo thuận lợi khi cho vay công ty con, tăng vốn điều lệ

Theo ông Nguyễn Đình Danh, Luật trao cho doanh nghiệp quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm; mở rộng tối đa thẩm quyền của doanh nghiệp ở hầu hết các nội dung. Các nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật số 68 được xây dựng rất gấp để đáp ứng yêu cầu đồng bộ về thời điểm có hiệu lực với Luật nhưng cũng bao quát được gần như đầy đủ, chi tiết các vấn đề mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước

Đông đảo đại diện các tổng công ty, tập đoàn nhà nước tham gia và đóng góp ý kiến tại hội thảo. Ảnh: T.L.

Đóng góp về dự thảo Nghị định quy định một số nội dung liên quan đến quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đại diện Ban Pháp chế Tập đoàn Viettel cho biết, doanh nghiệp đã có ý kiến gửi Bộ Tài chính, trong đó có nội dung về điều kiện để công ty mẹ (F1) cho công ty con (F2) vay vốn theo Luật số 68.

Theo đại diện Viettel, quy định cho phép F1 cho F2 vay vốn trong Luật số 68 xuất phát từ thực tiễn nhiều doanh nghiệp F2 gặp khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng, đó là tình huống hỗ trợ trong một hệ sinh thái chung của tập đoàn. Tuy nhiên, tại Điều 22 của dự thảo Nghị định, các điều kiện để F1 cho F2 vay vốn lại khó khả thi.

"Dự thảo yêu cầu F2 phải có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn, có phương án vay vốn khả thi, hiệu quả và có tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự. Chúng tôi cho rằng, nếu F2 đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng mà không cần vay vốn từ công ty mẹ" - đại diện Viettel bày tỏ.

Vì vậy, đại diện Viettel đề nghị chỉnh sửa quy định theo hướng giữ nguyên tinh thần của Luật số 68, cho phép F1 chủ động quyết định cho F2 vay vốn trên cơ sở chịu trách nhiệm toàn diện về quyết định của mình.

Tập đoàn Viettel mong muốn và kỳ vọng nghị định sẽ mở ra một khung pháp lý phù hợp cho việc trích lập dự phòng rủi ro đối với các hoạt động đầu tư, bao gồm cả trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 21, công ty mẹ chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước, chưa được phép vay từ tổ chức tín dụng nước ngoài. Viettel đề xuất mở rộng quy định này để bao gồm cả hoạt động vay vốn các tổ chức tín dụng nước ngoài.

Liên quan đến thoái vốn, Luật số 68 quy định cơ bản về việc F1 thoái vốn tại F2, kể cả ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều công ty F2 có đầu tư ra nước ngoài, như Viettel đang đầu tư tại 10 công ty F3 tại các quốc gia khác nhau, nhưng khi F1 thực hiện thoái vốn tại F2, việc định giá các khoản đầu tư ở nước ngoài hiện chưa có quy định cụ thể.

Góp ý về quy định vốn điều lệ, theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), VEC đề xuất bổ sung nội dung về nguồn vốn ngân sách nhà nước giao cho doanh nghiệp hoặc các bộ ngành đã giải ngân và đầu tư vào dự án. Lý do đề xuất do xuất phát từ vướng mắc của VEC trong quá trình tăng vốn điều lệ vừa qua, khi thực hiện vướng mắc và phải xin ý kiến của Quốc hội.

Xem xét điều chỉnh tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhà nước

Góp ý một số nội dung cần được xem xét bổ sung, làm rõ tại nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc VNPT, đây không chỉ là cơ sở để đánh giá, xếp loại doanh nghiệp mà còn để xem xét hiệu quả hoạt động của người đứng đầu doanh nghiệp và các kiểm soát viên. Qua đó, tạo động lực cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như tập thể người lao động trong doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước
Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát vốn. Ảnh: T.L.

VNPT cho rằng, các nguyên tắc đánh giá vẫn cần hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân phát triển tốt hơn. Cụ thể, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời rất nhiều tiêu chí: chỉ tiêu phải đạt 100% trở lên mới đánh giá là đạt; phải hoàn thành 7/7 chỉ tiêu được giao.

Theo Phó Tổng Giám đốc VNPT Nguyễn Đình Danh, trong dự thảo mới, doanh nghiệp được xếp hạng loại A dường như rất khó, đặc biệt, với xu hướng hiện nay, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được giao rất cao. Chỉ cần có một chỉ tiêu không đạt đã là doanh nghiệp loại B, trong khi tình hình kinh tế - xã hội rất nhiều biến động, rất nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Về tiêu chí xếp loại doanh nghiệp, theo đại diện Viettel, trước đây có 5 chỉ tiêu chính. Trong dự thảo, số lượng tiêu chí tăng lên 7, bổ sung thêm đánh giá về hoạt động đầu tư và nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hai tiêu chí bổ sung này cần cân nhắc thêm.

Tương tự, đối với tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch đầu tư, trước đây đạt trên 90% đã được coi là hoàn thành. "Theo tiêu chí đánh giá mới phải đạt 100 %, với một số tập đoàn có doanh thu quy mô lớn, việc này rất khó thực hiện" - đại diện Viettel nhìn nhận.

Cũng theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng VEC, về nội dung và tiêu chí đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp, hiện việc xếp loại chủ yếu dựa trên mức độ hoàn thành kế hoạch được giao, đặc biệt là tiêu chí doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 10% trở lên. Tuy nhiên, đây là yêu cầu khá thách thức, khó có thể đạt được; việc tách biệt xếp hạng người quản lý và doanh nghiệp cũng cần xem xét sửa đổi./.

7 thang đo đánh giá, xếp loại doanh nghiệp

Điều 32 dự thảo Nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp nêu rõ chỉ tiêu cơ bản đánh giá, xếp loại doanh nghiệp. Theo đó, các chỉ tiêu 1, 2, 3, 4, 5 tại dự thảo Nghị định kế thừa các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp được quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 và về cơ bản không có vướng mắc khi triển khai thực hiện; đồng thời bổ sung chỉ tiêu 6 và 7.

Cụ thể, chỉ tiêu 1: tổng doanh thu, sản lượng; chỉ tiêu 2: lợi nhuận sau thuế; chỉ tiêu 3: tỷ suất lợi nhuận; chỉ tiêu 4: nợ phải trả; chỉ tiêu 5: thực hiện nhiệm vụ được giao. Hai chỉ tiêu mới được bổ sung là chỉ tiêu 6: thực hiện hoạt động đầu tư của doanh nghiệp về việc thực hiện khối lượng, giá trị giải ngân theo kế hoạch; chỉ tiêu 7: thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,900 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,950 ▼150K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18318 18594 19172
CAD 18633 18911 19527
CHF 32879 33264 33909
CNY 0 3832 3924
EUR 30018 30292 31317
GBP 34362 34753 35687
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15687
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26087 0 0
USD (5,10,20) 26129 0 0
USD (50,100) 26157 26177 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26387
AUD 18521 18621 19546
CAD 18819 18919 19935
CHF 33128 33158 34740
CNY 3814.8 3839.8 3975.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30220 30250 31973
GBP 34677 34727 36480
HKD 0 3355 0
JPY 162.62 163.12 173.63
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20224 20354 21075
THB 0 753.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16000000 16000000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,186 26,235 26,387
USD20 26,186 26,235 26,387
USD1 26,186 26,235 26,387
AUD 18,591 18,691 19,796
EUR 30,382 30,382 31,791
CAD 18,773 18,873 20,181
SGD 20,323 20,473 21,280
JPY 163.29 164.79 169.36
GBP 34,581 34,931 36,100
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80