Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát vốn

(TBTCO) - Hội thảo lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp Luật số 68/2025/QH15 (Luật số 68) do Bộ Tài chính tổ chức ngày 9/7 nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và tạo thuận lợi trong việc xếp loại doanh nghiệp.
aa
Từ 1/8/2025, doanh nghiệp nhà nước được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ Doanh nghiệp nhà nước phải góp phần vào mục tiêu tăng trưởng 8% Xây dựng các nghị định tạo bước chuyển mới trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đánh giá, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một luật lớn, có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và VNPT nói riêng.

Đề xuất tạo thuận lợi khi cho vay công ty con, tăng vốn điều lệ

Theo ông Nguyễn Đình Danh, Luật trao cho doanh nghiệp quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm; mở rộng tối đa thẩm quyền của doanh nghiệp ở hầu hết các nội dung. Các nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật số 68 được xây dựng rất gấp để đáp ứng yêu cầu đồng bộ về thời điểm có hiệu lực với Luật nhưng cũng bao quát được gần như đầy đủ, chi tiết các vấn đề mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước

Đông đảo đại diện các tổng công ty, tập đoàn nhà nước tham gia và đóng góp ý kiến tại hội thảo. Ảnh: T.L.

Đóng góp về dự thảo Nghị định quy định một số nội dung liên quan đến quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đại diện Ban Pháp chế Tập đoàn Viettel cho biết, doanh nghiệp đã có ý kiến gửi Bộ Tài chính, trong đó có nội dung về điều kiện để công ty mẹ (F1) cho công ty con (F2) vay vốn theo Luật số 68.

Theo đại diện Viettel, quy định cho phép F1 cho F2 vay vốn trong Luật số 68 xuất phát từ thực tiễn nhiều doanh nghiệp F2 gặp khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng, đó là tình huống hỗ trợ trong một hệ sinh thái chung của tập đoàn. Tuy nhiên, tại Điều 22 của dự thảo Nghị định, các điều kiện để F1 cho F2 vay vốn lại khó khả thi.

"Dự thảo yêu cầu F2 phải có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn, có phương án vay vốn khả thi, hiệu quả và có tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự. Chúng tôi cho rằng, nếu F2 đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng mà không cần vay vốn từ công ty mẹ" - đại diện Viettel bày tỏ.

Vì vậy, đại diện Viettel đề nghị chỉnh sửa quy định theo hướng giữ nguyên tinh thần của Luật số 68, cho phép F1 chủ động quyết định cho F2 vay vốn trên cơ sở chịu trách nhiệm toàn diện về quyết định của mình.

Tập đoàn Viettel mong muốn và kỳ vọng nghị định sẽ mở ra một khung pháp lý phù hợp cho việc trích lập dự phòng rủi ro đối với các hoạt động đầu tư, bao gồm cả trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 21, công ty mẹ chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước, chưa được phép vay từ tổ chức tín dụng nước ngoài. Viettel đề xuất mở rộng quy định này để bao gồm cả hoạt động vay vốn các tổ chức tín dụng nước ngoài.

Liên quan đến thoái vốn, Luật số 68 quy định cơ bản về việc F1 thoái vốn tại F2, kể cả ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều công ty F2 có đầu tư ra nước ngoài, như Viettel đang đầu tư tại 10 công ty F3 tại các quốc gia khác nhau, nhưng khi F1 thực hiện thoái vốn tại F2, việc định giá các khoản đầu tư ở nước ngoài hiện chưa có quy định cụ thể.

Góp ý về quy định vốn điều lệ, theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), VEC đề xuất bổ sung nội dung về nguồn vốn ngân sách nhà nước giao cho doanh nghiệp hoặc các bộ ngành đã giải ngân và đầu tư vào dự án. Lý do đề xuất do xuất phát từ vướng mắc của VEC trong quá trình tăng vốn điều lệ vừa qua, khi thực hiện vướng mắc và phải xin ý kiến của Quốc hội.

Xem xét điều chỉnh tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhà nước

Góp ý một số nội dung cần được xem xét bổ sung, làm rõ tại nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc VNPT, đây không chỉ là cơ sở để đánh giá, xếp loại doanh nghiệp mà còn để xem xét hiệu quả hoạt động của người đứng đầu doanh nghiệp và các kiểm soát viên. Qua đó, tạo động lực cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như tập thể người lao động trong doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước
Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát vốn. Ảnh: T.L.

VNPT cho rằng, các nguyên tắc đánh giá vẫn cần hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân phát triển tốt hơn. Cụ thể, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời rất nhiều tiêu chí: chỉ tiêu phải đạt 100% trở lên mới đánh giá là đạt; phải hoàn thành 7/7 chỉ tiêu được giao.

Theo Phó Tổng Giám đốc VNPT Nguyễn Đình Danh, trong dự thảo mới, doanh nghiệp được xếp hạng loại A dường như rất khó, đặc biệt, với xu hướng hiện nay, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được giao rất cao. Chỉ cần có một chỉ tiêu không đạt đã là doanh nghiệp loại B, trong khi tình hình kinh tế - xã hội rất nhiều biến động, rất nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Về tiêu chí xếp loại doanh nghiệp, theo đại diện Viettel, trước đây có 5 chỉ tiêu chính. Trong dự thảo, số lượng tiêu chí tăng lên 7, bổ sung thêm đánh giá về hoạt động đầu tư và nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hai tiêu chí bổ sung này cần cân nhắc thêm.

Tương tự, đối với tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch đầu tư, trước đây đạt trên 90% đã được coi là hoàn thành. "Theo tiêu chí đánh giá mới phải đạt 100 %, với một số tập đoàn có doanh thu quy mô lớn, việc này rất khó thực hiện" - đại diện Viettel nhìn nhận.

Cũng theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng VEC, về nội dung và tiêu chí đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp, hiện việc xếp loại chủ yếu dựa trên mức độ hoàn thành kế hoạch được giao, đặc biệt là tiêu chí doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 10% trở lên. Tuy nhiên, đây là yêu cầu khá thách thức, khó có thể đạt được; việc tách biệt xếp hạng người quản lý và doanh nghiệp cũng cần xem xét sửa đổi./.

7 thang đo đánh giá, xếp loại doanh nghiệp

Điều 32 dự thảo Nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp nêu rõ chỉ tiêu cơ bản đánh giá, xếp loại doanh nghiệp. Theo đó, các chỉ tiêu 1, 2, 3, 4, 5 tại dự thảo Nghị định kế thừa các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp được quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 và về cơ bản không có vướng mắc khi triển khai thực hiện; đồng thời bổ sung chỉ tiêu 6 và 7.

Cụ thể, chỉ tiêu 1: tổng doanh thu, sản lượng; chỉ tiêu 2: lợi nhuận sau thuế; chỉ tiêu 3: tỷ suất lợi nhuận; chỉ tiêu 4: nợ phải trả; chỉ tiêu 5: thực hiện nhiệm vụ được giao. Hai chỉ tiêu mới được bổ sung là chỉ tiêu 6: thực hiện hoạt động đầu tư của doanh nghiệp về việc thực hiện khối lượng, giá trị giải ngân theo kế hoạch; chỉ tiêu 7: thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

(TBTCO) - Nhu cầu về “tấm lá chắn” bảo vệ thuần túy, thực chất ngày càng rõ nét, đưa bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với hơn 50% số hợp đồng nhân thọ khai thác mới trong 9 tháng. Với chi phí hợp lý, quyền lợi bảo vệ cao, sản phẩm này được nhiều doanh nghiệp chú trọng phát triển, mở rộng kênh phân phối, thậm chí trở thành "mũi nhọn" kinh doanh.
Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

(TBTCO) - Dư địa phát triển bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng khi Nghị định số 346/2026/NĐ-CP trao thêm quyền chủ động, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp và địa phương. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, việc địa phương sớm ban hành danh mục hỗ trợ, doanh nghiệp năng động triển khai, bảo vệ sinh kế người dân trước rủi ro ngay từ những vụ sản xuất tới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 01/11/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/11/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30