Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hội thảo lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp Luật số 68/2025/QH15 (Luật số 68) do Bộ Tài chính tổ chức ngày 9/7 nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các tổng công ty, tập đoàn nhà nước, giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và tạo thuận lợi trong việc xếp loại doanh nghiệp.
aa
Từ 1/8/2025, doanh nghiệp nhà nước được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ Doanh nghiệp nhà nước phải góp phần vào mục tiêu tăng trưởng 8% Xây dựng các nghị định tạo bước chuyển mới trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đánh giá, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một luật lớn, có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nói chung và VNPT nói riêng.

Đề xuất tạo thuận lợi khi cho vay công ty con, tăng vốn điều lệ

Theo ông Nguyễn Đình Danh, Luật trao cho doanh nghiệp quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm; mở rộng tối đa thẩm quyền của doanh nghiệp ở hầu hết các nội dung. Các nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật số 68 được xây dựng rất gấp để đáp ứng yêu cầu đồng bộ về thời điểm có hiệu lực với Luật nhưng cũng bao quát được gần như đầy đủ, chi tiết các vấn đề mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước

Đông đảo đại diện các tổng công ty, tập đoàn nhà nước tham gia và đóng góp ý kiến tại hội thảo. Ảnh: T.L.

Đóng góp về dự thảo Nghị định quy định một số nội dung liên quan đến quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đại diện Ban Pháp chế Tập đoàn Viettel cho biết, doanh nghiệp đã có ý kiến gửi Bộ Tài chính, trong đó có nội dung về điều kiện để công ty mẹ (F1) cho công ty con (F2) vay vốn theo Luật số 68.

Theo đại diện Viettel, quy định cho phép F1 cho F2 vay vốn trong Luật số 68 xuất phát từ thực tiễn nhiều doanh nghiệp F2 gặp khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng, đó là tình huống hỗ trợ trong một hệ sinh thái chung của tập đoàn. Tuy nhiên, tại Điều 22 của dự thảo Nghị định, các điều kiện để F1 cho F2 vay vốn lại khó khả thi.

"Dự thảo yêu cầu F2 phải có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn, có phương án vay vốn khả thi, hiệu quả và có tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật dân sự. Chúng tôi cho rằng, nếu F2 đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng mà không cần vay vốn từ công ty mẹ" - đại diện Viettel bày tỏ.

Vì vậy, đại diện Viettel đề nghị chỉnh sửa quy định theo hướng giữ nguyên tinh thần của Luật số 68, cho phép F1 chủ động quyết định cho F2 vay vốn trên cơ sở chịu trách nhiệm toàn diện về quyết định của mình.

Tập đoàn Viettel mong muốn và kỳ vọng nghị định sẽ mở ra một khung pháp lý phù hợp cho việc trích lập dự phòng rủi ro đối với các hoạt động đầu tư, bao gồm cả trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 21, công ty mẹ chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước, chưa được phép vay từ tổ chức tín dụng nước ngoài. Viettel đề xuất mở rộng quy định này để bao gồm cả hoạt động vay vốn các tổ chức tín dụng nước ngoài.

Liên quan đến thoái vốn, Luật số 68 quy định cơ bản về việc F1 thoái vốn tại F2, kể cả ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều công ty F2 có đầu tư ra nước ngoài, như Viettel đang đầu tư tại 10 công ty F3 tại các quốc gia khác nhau, nhưng khi F1 thực hiện thoái vốn tại F2, việc định giá các khoản đầu tư ở nước ngoài hiện chưa có quy định cụ thể.

Góp ý về quy định vốn điều lệ, theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), VEC đề xuất bổ sung nội dung về nguồn vốn ngân sách nhà nước giao cho doanh nghiệp hoặc các bộ ngành đã giải ngân và đầu tư vào dự án. Lý do đề xuất do xuất phát từ vướng mắc của VEC trong quá trình tăng vốn điều lệ vừa qua, khi thực hiện vướng mắc và phải xin ý kiến của Quốc hội.

Xem xét điều chỉnh tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhà nước

Góp ý một số nội dung cần được xem xét bổ sung, làm rõ tại nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Đình Danh - Phó Tổng Giám đốc VNPT, đây không chỉ là cơ sở để đánh giá, xếp loại doanh nghiệp mà còn để xem xét hiệu quả hoạt động của người đứng đầu doanh nghiệp và các kiểm soát viên. Qua đó, tạo động lực cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như tập thể người lao động trong doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước
Nhiều doanh nghiệp nhà nước "đầu tàu" đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát vốn. Ảnh: T.L.

VNPT cho rằng, các nguyên tắc đánh giá vẫn cần hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân phát triển tốt hơn. Cụ thể, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời rất nhiều tiêu chí: chỉ tiêu phải đạt 100% trở lên mới đánh giá là đạt; phải hoàn thành 7/7 chỉ tiêu được giao.

Theo Phó Tổng Giám đốc VNPT Nguyễn Đình Danh, trong dự thảo mới, doanh nghiệp được xếp hạng loại A dường như rất khó, đặc biệt, với xu hướng hiện nay, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được giao rất cao. Chỉ cần có một chỉ tiêu không đạt đã là doanh nghiệp loại B, trong khi tình hình kinh tế - xã hội rất nhiều biến động, rất nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Về tiêu chí xếp loại doanh nghiệp, theo đại diện Viettel, trước đây có 5 chỉ tiêu chính. Trong dự thảo, số lượng tiêu chí tăng lên 7, bổ sung thêm đánh giá về hoạt động đầu tư và nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hai tiêu chí bổ sung này cần cân nhắc thêm.

Tương tự, đối với tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch đầu tư, trước đây đạt trên 90% đã được coi là hoàn thành. "Theo tiêu chí đánh giá mới phải đạt 100 %, với một số tập đoàn có doanh thu quy mô lớn, việc này rất khó thực hiện" - đại diện Viettel nhìn nhận.

Cũng theo bà Hàn Mai Nga - Kế toán trưởng VEC, về nội dung và tiêu chí đánh giá, xếp loại doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp, hiện việc xếp loại chủ yếu dựa trên mức độ hoàn thành kế hoạch được giao, đặc biệt là tiêu chí doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 10% trở lên. Tuy nhiên, đây là yêu cầu khá thách thức, khó có thể đạt được; việc tách biệt xếp hạng người quản lý và doanh nghiệp cũng cần xem xét sửa đổi./.

7 thang đo đánh giá, xếp loại doanh nghiệp

Điều 32 dự thảo Nghị định về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp nêu rõ chỉ tiêu cơ bản đánh giá, xếp loại doanh nghiệp. Theo đó, các chỉ tiêu 1, 2, 3, 4, 5 tại dự thảo Nghị định kế thừa các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp được quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 và về cơ bản không có vướng mắc khi triển khai thực hiện; đồng thời bổ sung chỉ tiêu 6 và 7.

Cụ thể, chỉ tiêu 1: tổng doanh thu, sản lượng; chỉ tiêu 2: lợi nhuận sau thuế; chỉ tiêu 3: tỷ suất lợi nhuận; chỉ tiêu 4: nợ phải trả; chỉ tiêu 5: thực hiện nhiệm vụ được giao. Hai chỉ tiêu mới được bổ sung là chỉ tiêu 6: thực hiện hoạt động đầu tư của doanh nghiệp về việc thực hiện khối lượng, giá trị giải ngân theo kế hoạch; chỉ tiêu 7: thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80