Đề xuất kéo dài hiệu lực chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp

Thái Duy
Dù còn gặp một số khó khăn phát sinh trên thực tế, tuy nhiên việc triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp bước đầu đã cho thấy kết quả đáng ghi nhận. Thời gian tới, các đơn vị liên quan sẽ có đề xuất, sửa đổi bổ sung để chính sách này tăng hiệu quả trên thực tiễn.
aa

Đã có đơn bảo hiểm tại Nghệ An và Hà Giang

Triển khai Nghị định 58/2018/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, thời gian qua, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), cùng các địa phương và đơn vị liên quan, doanh nghiệp bảo hiểm đã chủ động, tích cực triển khai.

Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho biết, công tác tuyên truyền, hướng dẫn về chính sách đã được các cơ quan quản lý quan tâm triển khai theo chuyên đề hoặc lồng ghép vào các chương trình công tác thường xuyên, đa dạng dưới nhiều hình thức. UBND các tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban ngành tích cực phối hợp với các cơ quan truyền thông địa phương tổ chức công tác tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp nói chung và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp nói riêng.

Về hệ thống văn bản, cho đến nay, các cơ quan quản lý nhà nước tại trung ương đã ban hành đầy đủ hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp theo quy định tại Nghị định số 58 và Quyết định số 22. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cơ bản hoàn thành việc lựa chọn địa bàn được hỗ trợ.

Cùng với đó, Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT đã tích cực trong việc đôn đốc triển khai thực hiện; chủ động giám sát tình hình, thường xuyên tổ chức các đoàn công tác liên ngành làm việc thực tế tại 15/19 địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp để nắm bắt thực tế, kịp thời giải đáp các vướng mắc về chính sách theo thẩm quyền.

Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đã xây dựng và trình Bộ Tài chính phê chuẩn đầy đủ các bộ sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp về các đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ phí bảo hiểm, bao gồm cây lúa, vật nuôi (trâu, bò) và thủy sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng). Về cơ bản, các sản phẩm bảo hiểm được xây dựng đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật; lấy nông dân làm trung tâm với các quy định đảm bảo rõ ràng, minh bạch về quyền lợi, trách nhiệm, điều kiện bảo hiểm; mức phí bảo hiểm không chỉ phù hợp với điều kiện, mức trách nhiệm bảo hiểm mà còn đảm bảo phù hợp với khả năng chi trả của người nông dân và đảm bảo khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tại các địa phương được hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp, theo báo cáo của các địa phương và kết quả làm việc thực tế, cho đến nay UBND các tỉnh về cơ bản đã hoàn thành việc lựa chọn địa bàn được hỗ trợ (18/19 địa phương thuộc danh sách được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 22); một số địa phương đã hoàn thành phê duyệt đối tượng được hỗ trợ (5/19 địa phương).

bảo hiểm nông nghiệp
Một số hộ nghèo tại Hà Giang đã được hỗ trợ từ chính sách bảo hiểm nông nghiệp.

Còn về phía các DNBH, hiện nay, có 2 DN là Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo Việt) và Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh) được Bộ Tài chính phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, để thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp. Theo báo cáo của các DNBH này, cho đến nay việc triển khai cấp đơn bảo hiểm nông nghiệp cho các đối tượng được hỗ trợ mới chỉ có kết quả nhất định.

Theo đó, Nghệ An triển khai bảo hiểm cây lúa tại 102 xã (trong tổng số 246 xã của 8 huyện được lựa chọn địa bàn hỗ trợ); tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm: 7.291 (12,6% hộ nghèo, 53,4% hộ cận nghèo, 34% hộ thường); tổng giá trị được bảo hiểm đạt 39,1 tỷ đồng; tổng số phí bảo hiểm đạt 2 tỷ đồng; đang hoàn thiện hồ sơ để chi trả bồi thường cho vụ hè thu.

Tính đến ngày 31/12/2020, Bảo Việt Hà Giang đã triển khai loại hình bảo hiểm vật nuôi cho 3 huyện là Vị Xuyên, Xín Mần và Mèo Vạc. Cụ thể, Bảo Việt Hà Giang đã triển khai được tổng số 3.479 hộ, với 4.791 con, gồm trâu 3.322 con, bò 1.469 con. Với tổng giá trị bảo hiểm lên tới 70 tỷ đồng, phần phí bảo hiểm do ngân sách hỗ trợ là 2,370 tỷ đồng, phí hộ dân tham gia đóng là 264 triệu đồng.

Đề xuất kéo dài hiệu lực của Quyết định 22

Mặc dù đã cho những kết quả bước đầu, tuy nhiên, qua ghi nhận từ thực tiễn, công tác triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp còn gặp một số khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ.

Theo đó, bên cạnh việc cần đẩy mạnh tuyên truyền hơn nữa, thì các chính sách cần được ban hành kịp thời hơn và công tác triển khai cũng cần quyết liệt hơn để chính sách này phát huy hiệu quả hơn nữa trên thực tiễn.

Cùng với đó, tại các buổi làm việc trực tiếp, các địa phương đều có ý kiến đề nghị kéo dài thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, theo nội dung Quyết định số 22.

Do đó, việc ban hành quyết định kéo dài thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 22 đến hết ngày 31/12/2021 là hết sức cần thiết, đảm bảo thời gian triển khai nhất định trên thực tế để có thể tổng kết, đánh giá toàn diện, đầy đủ kết quả thực hiện; các khó khăn, vướng mắc và có đề xuất mang tính khả thi, phù hợp cho giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, việc kéo dài thời gian này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 122/2020/QH14 kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV ngày 19/6/2020 của Quốc hội: “Kéo dài thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước giai đoạn 2017 - 2020 sang năm 2021”./.

Thái Duy

Thái Duy

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80