FED tăng lãi suất - nền kinh tế bình thản với kịch bản trung lập

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã chính thức tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm. Đây là kịch bản trung lập trong số 3 kịch bản được giới phân tích đã bình luận từ trước đó, đây cũng là kịch bản được đánh giá là nhiều khả năng xảy ra nhất. Do những tính chất đã được dự báo từ trước, động thái tăng lãi suất lần này của Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã không gây biến động lớn với thị trường tài chính toàn cầu và cũng khá bình yên đối với thị trường trong nước.
aa

Kịch bản nhiều khả năng xảy ra nhất

Vừa qua, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã đưa ra quyết định tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (0,25 điểm phần trăm) và với đợt tăng lãi suất này, FED đã tăng lãi suất 9 lần liên tiếp kể từ tháng 3/2022. Động thái trên đã nâng mức lãi suất qua đêm của Ngân hàng trung ương Mỹ lên khoảng 4,75% - 5%. Các dự báo cập nhật cũng cho thấy, 10 trong số 18 nhà hoạch định chính sách của FED vẫn kỳ vọng lãi suất sẽ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm vào cuối năm nay.

Động thái tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ hiện không ảnh hưởng nhiều đến thị trường Việt Nam.
Động thái tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ hiện không ảnh hưởng nhiều đến thị trường Việt Nam.

Việc FED tiếp tục quyết định tăng lãi suất cho thấy cơ quan này vẫn khá kiên định với lộ trình tăng lãi suất đã được đề ra từ trước, bất chấp sự kiện đổ vỡ liên tục của 3 ngân hàng Mỹ. Trong đó, một trong những cuộc đổ vỡ là trường hợp Silicon Valley Bank (SVB) từ việc tăng lãi suất liên tục và kéo dài khiến ngân hàng này bị thua lỗ nặng do các khoản trái phiếu mua trước đó với lãi suất thấp.

Sau khi SVB đổ vỡ, nhiều chuyên gia cũng đưa ra dự báo có thể FED sẽ phải cân nhắc lại các quyết định tăng lãi suất. TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ quốc gia cho biết, sự cố SVB cũng có thể sẽ khiến FED xem xét và điều chỉnh nhẹ kế hoạch điều hành lãi suất thời gian tới.

Mặc dù vậy, động thái tăng lãi suất chỉ ở mức 0,25 điểm phần trăm của FED lần này cũng cho thấy một kịch bản “nhẹ tay” hơn của FED nếu như không có sự cố SVB xảy ra. Bởi lẽ vào giai đoạn cuối tháng 2 và đầu tháng 3/2023, một số nhà kinh tế cũng có đưa ra một số dự báo về khả năng tăng lãi suất của FED với cường độ mạnh hơn mức 0,25 điểm phần trăm do tình hình lạm phát ở Mỹ đang có dấu hiệu tăng trở lại.

Sau sự cố đổ vỡ của SVB và một số ngân hàng Mỹ khác, các chuyên gia đã đưa ra 3 kịch bản về quyết định của FED là: Thứ nhất, FED vẫn có thể tăng mạnh lãi suất với biên độ có thể lên tới 0,5 điểm phần trăm với mục tiêu tiếp tục quyết tâm kiểm soát lạm phát. Kịch bản thứ hai là FED có thể tạm hoãn lại việc tăng lãi suất để ưu tiên việc giải quyết các vấn đề thanh khoản của các ngân hàng trước. Trong khi đó, kịch bản thứ 3 là FED vẫn tăng lãi suất, nhưng chỉ ở mức 0,25 điểm phần trăm.

Tác động không lớn với kinh tế Việt Nam

Với những gì đã diễn ra, hành động của FED là thực hiện theo kịch bản trung lập, tức vẫn tăng lãi suất, nhưng ở mức nhẹ và đây cũng là kịch bản được giới phân tích cho rằng có nhiều khả năng xảy ra nhất. Theo đó, việc FED tăng lãi suất theo kịch bản trung lập, nên tác động của động thái đối với thị trường tài chính quốc tế cũng không quá lớn.

Sau khi FED tăng lãi suất, giá vàng thế giới đã có phản ứng tăng điểm vào ngày 22/3, nhưng đã quay đầu giảm trở lại vào các ngày tiếp theo do chịu áp lực bán chốt lời. Diễn biến của giá vàng sau động thái tăng lãi suất lần này của FED cũng khác với quy luật thông thường, trước kia lãi suất tăng thường làm cho giá kim loại quý giảm. Tuy nhiên, yếu tố tăng giá của vàng trong ngày 22/3 cho thấy, giới đầu tư đã bớt lo lắng hơn về hành động của FED có thể tăng mạnh lãi suất. Diễn biến tâm lý này đã có nhiều thay đổi so với giai đoạn cuối tháng 2 và đầu tháng 3 (trước khi xảy ra sự cố SBV), khi đó vàng bị bán ra và giảm giá do những lo ngại về các hành động mạnh tay của FED với lãi suất.

Đối với thị trường Việt Nam, tại thời điểm trước khi FED có quyết định chính thức, một số chuyên gia cho biết, tâm lý thị trường của nhà đầu tư tại Việt Nam có vẻ đặt nhiều kỳ vọng việc FED sẽ tăng 0,25 điểm phần trăm và thực tế diễn ra đúng như vậy. Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Tuấn - CEO của AFA Capital cũng đưa ra đánh giá rằng, bản chất các hành động của FED là họ không muốn làm sốc thị trường tài chính và họ luôn có một lộ trình và quy tắc để họ dựa vào đó để hành xử.

Liên hệ với bối cảnh thị trường tiền tệ Việt Nam, ông Tuấn cho rằng, thị trường trong nước vừa qua có diễn biến độc lập trong chính sách tiền tệ mới là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những yếu tố cho thấy sự độc lập đó là việc Ngân hàng Nhà nước vẫn thực hiện quyết định hạ lãi suất điều hành vào giữa tháng 3, trước thời điểm FED có thể có những quyết định của họ về việc có thể tăng lãi suất. Do đó, bối cảnh hiện nay cho thấy động thái của FED hiện không quá quan trọng với thị trường Việt Nam, ít nhất là trong ngắn hạn. Một số diễn biến cụ thể cũng cho thấy lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vẫn giảm mạnh và đây vẫn là yếu tố nền tảng có thể giúp cho lãi suất ngoài thị trường dân cư cũng giảm theo, đi ngược với diễn biến của FED.

Ngân hàng Trung ương Châu Âu vẫn giữ lộ trình tăng lãi suất nhưng thận trọng

Trước khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng đã có đợt tăng lãi suất thêm 0,5 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ECB cũng cam kết hỗ trợ hệ thống tài chính nếu cần thiết vẫn giữ vững quan điểm về rủi ro giá tiêu dùng chưa có dấu hiệu giảm bớt trong bối cảnh thị trường toàn cầu bất ổn gần đây. Mặc dù biên độ tăng lãi suất lần gần đây nhất của ECB cao hơn so với FED, nhưng mặt bằng lãi suất của ECB mới chỉ là 3%, thấp hơn mức khoảng 4,75-5% hiện nay của FED. Tuy nhiên, mức lãi suất này cũng đã là mức lãi suất cao nhất tại khu vực đồng Euro kể từ 10/2008.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80