Giải “thế khó” cho ngân hàng để khơi thông dòng vốn

Chí Tín
(TBTCO) - Thời gian qua, thực trạng các ngân hàng dồn ứ vốn và rất muốn giải ngân cho vay, nhưng lại đối diện với "bài toán" khó trong kiểm soát rủi ro. Theo đó, một trong những giải pháp được giới chuyên môn đặt ra là đẩy mạnh hơn nữa việc phổ cập hoạt động xếp hạng tín nhiệm để tăng năng lực quản trị rủi ro tín dụng, hỗ trợ khơi thông dòng vốn.
aa
Giải “thế khó” cho ngân hàng để khơi thông dòng vốn
Doanh nghiệp có mức xếp hạng tín nhiệm tốt sẽ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng dễ dàng. Ảnh: TL

Ngân hàng vẫn “nhọc nhằn” tìm khách

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động xúc tiến tín dụng, trong đó đáng chú là các cuộc gặp gỡ tiếp xúc doanh nghiệp liên tục tại các địa phương. Cụ thể, NHNN đã thực hiện khoảng 320 buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp được tổ chức trên toàn quốc. Thông qua các chương trình như trên, các tổ chức tín dụng đã thực hiện kết nối, hỗ trợ cho trên 145.000 doanh nghiệp với dư nợ được hỗ trợ là 1,4 triệu tỷ đồng, thông qua các biện pháp như cho vay mới, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ khác (điều chỉnh giảm lãi suất, giảm phí,..).

Mặt bằng lãi suất cũng đang giảm dần so với cuối năm 2022. Theo thông tin từ NHNN, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại theo đó đã giảm được khoảng 1,5 - 2% so với thời điểm cuối năm 2022. Tuy nhiên, theo NHNN, mặc dù toàn ngành Ngân hàng đã nỗ lực thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp, nhưng việc cung ứng và tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Tiếp tục đặt ra yêu cầu về tăng khả năng tiếp cận tín dụng

Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo việc thực hiện quyết liệt các giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong đó tại công điện Công điện số 990/CĐ-TTg, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, hiệu quả, phấn đấu đạt mục tiêu cao nhất có thể...

Tại buổi gặp gỡ ngân hàng - doanh nghiệp tại khu vực Tây Nguyên, diễn ra trong tháng 10/2023, bà Trần Thị Lan Anh - đại diện cho Công ty Xuất khẩu cà phê Vĩnh Hiệp Gia Lai cho biết, doanh nghiệp cần đảm bảo nguồn vốn để thu mua cà phê cho người nông dân để sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn đảm bảo thu mua và điều tiết kế hoạch dẫn tới tình trạng bị ép giá do khối lượng lớn cà phê tập trung thu hoạch vào chính vụ được bán ra trong thời gian rất ngắn.

Giải thế khó bằng định hạng tín nhiệm

Phía ngành Ngân hàng, động thái suốt thời gian qua cho thấy vẫn liên tục tiếp xúc khách hàng để gỡ nút thắt khơi thông dòng vốn, nhưng mặt khác vẫn khẳng định đảm bảo kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, không để nợ xấu gia tăng. Đây cũng là một trong những lý do chính của thực trạng ách tắc nguồn vốn trong thời gian qua. Bản chất tình trạng này là ngân hàng muốn cho vay, nhưng lại lo sợ rủi ro.

Gần đây, một số chuyên gia cũng đặt vấn đề về giải pháp phát triển hoạt động xếp hạng tín nhiệm, để có cơ sở tham chiếu cho việc “chấm điểm” hệ số rủi ro của từng doanh nghiệp được chuẩn xác, qua đó tháo gỡ những ách tách về vốn cho nền kinh tế.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, hiện nay xếp hạng tín nhiệm là công cụ hữu hiệu giúp các hoạt động trên thị trường tài chính diễn ra minh bạch, công khai; qua đó thúc đẩy thị trường tài chính tiền tệ, thị trường vốn phát triển an toàn và bền vững. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc xếp hạng tín nhiệm còn hạn chế, chưa trở thành quy định bắt buộc như kiểm toán độc lập. Theo đó, doanh nghiệp có mức xếp hạng tín nhiệm tốt sẽ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng dễ dàng, nhanh chóng, với mức lãi suất ưu đãi hơn.

Tại Việt Nam, kể từ khi Nghị định 88/2014/NĐ-CP được ban hành, quy định về việc cấp phép và hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã tạo điều kiện hình thành thị trường xếp hạng tín nhiệm chính thức tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 3 đơn vị xếp hạng tín nhiệm được cấp phép tại Việt Nam là FiinRatings, VIS Rating và Saigon Ratings, với hoạt động của các công ty này còn tương đối hạn chế.

Mặt khác, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng xếp hạng tín nhiệm rất thấp cho thấy doanh nghiệp, trong đó có ngân hàng chưa quan tâm đến vấn đề này. Trong khi chưa có quy định yêu cầu bắt buộc xếp hạng tín nhiệm cũng như các phương pháp để quản lý các công ty xếp hạng tín nhiệm, các nhà đầu tư cũng không cho đó là điều quan trọng để ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của mình.

Không chỉ với các doanh nghiệp, mà ngay cả các ngân hàng cũng có điều kiện thuận lợi nếu được xếp hạng tín nhiệm. Theo ông Hùng, các ngân hàng được tổ chức uy tín xếp hạng tín nhiệm cao sẽ giúp ngân hàng có nhiều lợi thế như: huy động vốn, hoạt động nghiệp vụ, cho vay, hay vay vốn với lãi suất thấp từ các tổ chức trong nước và quốc tế.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Việc suy giảm khả năng hấp thụ vốn là vấn đề cần được quan tâm tháo gỡ

Giải “thế khó” cho ngân hàng để khơi thông dòng vốn
Ông Đào Minh Tú

Chúng ta đang trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn, bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước có nhiều trở ngại, thách thức, gây áp lực lớn đối với hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Theo Báo cáo đầu tư thế giới do Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đã giảm 12% trong năm 2022, riêng các nước phát triển giảm 37%. Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam bị thu hẹp, như Hoa Kỳ thu hẹp 20%, EU 11%, Trung Quốc 10%... .

Trong nước, theo khảo sát năm 2022 của Vietnam Report, 96,1% doanh nghiệp chịu áp lực tăng giá của các yếu tố đầu vào sản xuất; 61,5% gặp khó khăn bởi gián đoạn do “di chứng” của đại dịch Covid-19 gây ra, 53,9% chịu tác động từ đứt gãy chuỗi cung ứng, 48,1% cho rằng sức mua của người tiêu dùng giảm sút…

Sang đến năm 2023, tình hình càng trở nên khó khăn hơn, khu vực sản xuất liên tục bị thu hẹp trong nhiều tháng, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm cả về số lượng và quy mô vốn trong khi số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể tiếp tục tăng.

Trước tình hình hiện nay, việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, duy trì và khôi phục sức khỏe của khu vực doanh nghiệp là ưu tiên hàng đầu, trong đó sự suy giảm khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn là vấn đề được đặc biệt quan tâm, cần nhanh chóng đưa ra các giải pháp, chính sách hiệu quả để tháo gỡ.

Ông Nguyễn Quang Thuân - Tổng giám đốc Công ty Xếp hạng tín nhiệm Fiin Ratting: Xếp hạng tín nhiệm sẽ hỗ trợ việc quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng

Giải “thế khó” cho ngân hàng để khơi thông dòng vốn
Ông Nguyễn Quang Thuân

Nhu cầu vốn của xã hội hiện nay là rất lớn, nhất là những lĩnh vực cần nhiều vốn như năng lượng tái tạo, bất động sản... Do đó, nền kinh tế không đáp ứng đủ vốn thì sẽ khó có đủ nguồn lực bền vững để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Điều này không phải chỉ là việc của các cơ quan quản lý nhà nước mà là nhiệm vụ chung của nhiều bên tham gia, bao gồm cả cộng đồng doanh nghiệp.

Hoạt động xếp hạng tín nhiệm nếu được ứng dụng rộng rãi sẽ là cơ sở để hình thành đường cong lãi suất chuẩn, cung cấp thêm thông tin làm cơ sở đánh giá và quản trị rủi ro cho hoạt động cấp tín dụng. Cụ thể, các tổ chức tín dụng sẽ có thêm thông tin đầy đủ để thẩm định tình hình tài chính, khả năng trả nợ cũng như các rủi ro của doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm độc lập trong công tác quản trị rủi ro tín dụng và đầu tư vào các công cụ nợ.

Đặc biệt, các ngân hàng hiện đang cần nâng cao yêu cầu quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế (cụ thể là tiêu chuẩn Basel III) thì việc này cũng càng có ý nghĩa hơn. Chẳng hạn, các chính sách và hệ số rủi ro có thể tham chiếu được đa dạng hơn nhờ kết quả xếp hạng tín nhiệm độc lập theo phương pháp chuẩn hóa (Standardised Approach - SA) bên cạnh hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ (Internal Rating Based Approach - IRB) của các ngân hàng./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

(TBTCO) - Sáng ngày 27/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 VND/USD, giảm 2 đồng so với phiên trước đó. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) biến động hẹp, giảm nhẹ 0,06% hiện ở mức 99,87 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,950 ▼30K 17,250 ▼30K
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,440 ▼30K 17,140 ▼30K
Trang sức 99.99 16,450 ▼30K 17,150 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,684 ▼14K 17,142 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,684 ▼14K 17,143 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,682 ▼14K 1,712 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,682 ▼14K 1,713 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,662 ▼14K 1,697 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,152 ▼146754K 16,802 ▼152604K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,538 ▼1050K 127,438 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,658 ▲95897K 115,558 ▲103907K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,777 ▼854K 103,677 ▼854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,195 ▼816K 99,095 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,022 ▼584K 70,922 ▼584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Cập nhật: 30/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,771 29,795 31,027
JPY 160.12 160.41 169.04
GBP 34,253 34,346 35,316
AUD 17,711 17,775 18,332
CAD 18,596 18,656 19,227
CHF 32,552 32,653 33,418
SGD 20,005 20,067 20,724
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16.05 16.74 18.1
THB 760.85 770.25 819.11
NZD 14,759 14,896 15,242
SEK - 2,730 2,810
DKK - 3,984 4,099
NOK - 2,653 2,731
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,122.85 - 6,873.27
TWD 741.69 - 893
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80