Thị trường tiền tệ tuần 22-26.1:

Lợi nhuận ngân hàng phân hóa mạnh, giá vàng tăng vào cuối tuần

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận giai đoạn các ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý IV/2023 với lợi nhuận có sự phân hóa mạnh giữa các nhóm ngân hàng. Trong khi đó, thị trường vàng sau khi giảm vào đầu tuần đã lại lại sức mua và tăng dần vào cuối tuần.
aa

Nhiều ngân hàng đã công bố lợi nhuận quý IV

Đến thời điểm 26/12, đã có 16 ngân hàng trong số các ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý IV/2023.

Diễn biến lợi nhuận của các ngân hàng không đồng đều, trong khi có những ngân hàng đạt tăng trưởng lợi nhuận khá mạnh thì có nhiều ngân hàng khác lại sụt giảm lợi nhuận.

Lợi nhuận ngân hàng phân hóa mạnh, giá vàng tăng vào cuối tuần
Saigonbank đạt tăng trưởng lợi nhuận rất cao, nhưng do so sánh với nền lợi nhuận thấp cùng kỳ năm trước. Ảnh: T.L
Tổng lợi nhuận 4 ngân hàng lớn nhất của Mỹ tăng 23% trong quý III/2023 “Tháo khoán” cho các ngân hàng giải ngân nhanh, giá vàng tăng nhiệt

Saigonbank là ngân hàng gây ấn tượng khá mạnh với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế trong quý IV, với mức tăng 9.146% so với quý IV/2022. Mặc dù lợi nhuận của Saigonbank bứt phá rất mạnh tính theo tốc độ tăng trưởng, nhưng thực chất sự so sánh này dựa trên nền lợi nhuận rất thấp của ngân hàng này quý IV/2022 với chỉ 1 tỷ đồng lợi nhuận thời điểm đó. Tuy vậy, với kết quả lợi nhuận 84 tỷ đồng trong quý IV/2023, Saigonbank vẫn đạt tổng lợi nhuận cả năm 2023 là 332 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2022.

Trích lập dự phòng làm ảnh hưởng lợi nhuận một số ngân hàng

Diễn biến tài chính cho thấy, một số ngân hàng mặc dù đạt tăng trưởng tín dụng tốt và thu nhập lãi thuần cũng đạt tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên, việc phải trích lập dự phòng đã làm một số ngân hàng sụt giảm đáng kể lợi nhuận.

Một trong những ngân hàng khác có được tăng trưởng lợi nhuận cao là LPBank với giá trị lợi nhuận quý IV/2023 là 3.353 tỷ đồng, tăng 287% so với cùng kỳ năm trước; cả năm 2023 đạt 7.039 tỷ đồng, tăng trưởng 24%.

Trong khi đó, một số ngân hàng khác lại đối diện với thực trạng suy giảm lợi nhuận. Chẳng hạn như VIB đạt lợi nhuận quý IV/2023 là 2.378 tỷ đồng, giảm 14% so với cùng kỳ, nhưng cả năm vẫn tăng 1%; TPBank đạt lợi nhuận quý IV/2023 là 630 tỷ đồng, giảm 67% so với cùng kỳ, cả năm đạt 5.589 tỷ đồng, giảm 29% so với năm trước. Riêng PGBank bị thua lỗ 5 tỷ đồng trong quý IV/2023, theo đó lợi nhuận cả năm 2023 đạt 356 tỷ đồng, giảm 30% so với cùng kỳ.

Tỷ giá tăng nhẹ

Tỷ giá trung tâm và tỷ giá niêm yết tại ngân hàng thương mại diễn ra theo xu hướng tăng nhẹ trong tuần vừa qua.

Tỷ giá trung tâm hôm thứ hai đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 24.031 đồng/USD sau đó liên tục diễn ra trong bối cảnh biến động rất nhẹ 3 ngày liên tiếp, trước khi tăng nhẹ vào hôm thứ sáu cuối tuần với mức 24.036 đồng/USD.

Trong khi đó, tỷ giá tại Vietcombank diễn ra theo xu hướng tăng khá đều trong tuần, khi mở đầu tuần hôm 22/1 với tỷ giá bán ra là 24.705 đồng/USD. Sau đó, ngân hàng này nâng dần tỷ giá bán ra với mức 24.730 đồng/USD vào hôm 23/1, nâng tiếp lên 24.770 đồng/USD vào hôm 24/1 và chốt phiên thứ sáu cuối tuần ở mức bán ra là 24.780 đồng/USD.

Diễn biến tình hình xuất nhập khẩu nửa đầu tháng 1/2024 theo thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại vẫn trong tình trạng xuất siêu ở mức 0,38 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 15,09 tỷ USD và nhập khẩu đạt 14,7 tỷ USD.

Tuy nhiên, xu hướng cho thấy xuất khẩu đang trong trạng thái giảm 7,5% so với kỳ trước (nửa cuối tháng 12/2023), còn nhập khẩu có xu hướng tăng 7,6% so với kỳ trước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ đang diễn ra trong chu kỳ phục hồi và hiện đang ở mức 103,68 điểm.

Lợi nhuận ngân hàng phân hóa mạnh, giá vàng tăng vào cuối tuần
Cần có những chính sách hợp lý để phát triển thị trường vàng. Ảnh: T.L

Giá vàng giảm đầu tuần, nhưng tăng trở lại

Giá vàng mở đầu tuần mới với diễn biến giảm so với cuối tuần trước, ghi nhận mức bán ra 76,02 đồng/lượng đối với vàng miếng SJC 9999. Tuy nhiên, giá vàng được các công ty vàng niêm yết theo động thái tăng dần trong các ngày trong tuần, đến chiều ngày 26/1, giá vàng miếng SJC 9999 được bán ra ở mức 76,8 triệu đồng/lượng.

Trong tuần qua, Cổng thông tin điện tử Chính phủ đã có buổi tọa đàm “Giải pháp phát triển thị trường vàng an toàn và bền vững”. Tại đây, các chuyên gia cho rằng, thời gian qua, các cơ chế, chính sách về quản lý, phát triển thị trường vàng ở nước ta được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm, không ngừng bổ sung và hoàn thiện. Qua đó, thị trường vàng cơ bản có sự phát triển ổn định, có những đóng góp hết sức hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thị trường vàng của Việt Nam cũng còn những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau liên quan đến cơ chế, chính sách, tâm lý người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư…

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường - Ủy viên Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội, trong tình hình hiện nay, rất cần có sự thay đổi về phương thức quản lý. Chắc chắn chúng ta phải nghĩ đến chuyện thay đổi, sửa đổi quy định Nghị định số 24/2012/NĐ-CP này, chẳng hạn, không nhất thiết phải độc quyền nhà nước về một thương hiệu vàng.

Thị trường vàng thế giới biến động không nhiều, nhưng mặt bằng giá hiện tại tương đối thấp so với mặt bằng tại thời điểm đầu tháng 1/2023, với giá giao dịch tại thời điểm chiều ngày 26/1 theo giờ Việt Nam khoảng 2.020 USD/ounce.

Nên quan niệm coi vàng cũng là một loại hàng hóa thông thường

Ông Nguyễn Thế Hùng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, cho biết trên thế giới, các ngân hàng trung ương không quản lý trực tiếp về kinh doanh vàng bởi họ quan niệm vàng là một loại hàng hóa thông thường. Tại các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan…, Ngân hàng Nhà nước chỉ quản lý về ngoại hối, điều tiết các dòng tiền ngoại tệ.

Theo đó, các ngân hàng trung ương ở các nước chỉ có vai trò dự trữ quốc gia, điều phối vàng như là một tài sản để dự trữ quốc gia. Đây là một công cụ để bảo đảm an ninh tiền tệ. Như vậy, ngân hàng trung ương ở các nước không trực tiếp quản lý vàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 6/6: Giá vàng trong nước giảm tới gần 4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn với mức điều chỉnh lên tới gần 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về quanh ngưỡng 149 - 153 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/6: Giá vàng tiếp tục giảm về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/6: Giá vàng tiếp tục giảm về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt mất 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 154,5 - 157,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/6: Giá vàng lùi về quanh ngưỡng 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giá giao dịch lùi về quanh 155,5 - 158,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 13,830
Kim TT/AVPL 13,430 13,830
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 13,830
Nguyên Liệu 99.99 13,350 13,550
Nguyên Liệu 99.9 13,300 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 13,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 13,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 13,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 138,800
Hà Nội - PNJ 133,800 138,800
Đà Nẵng - PNJ 133,800 138,800
Miền Tây - PNJ 133,800 138,800
Tây Nguyên - PNJ 133,800 138,800
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 138,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 13,830
Miếng SJC Nghệ An 13,330 13,830
Miếng SJC Thái Bình 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 13,830
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,020 13,720
Trang sức 99.99 13,030 13,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 13,832
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 13,833
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 1,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 1,367
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 135,347
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 102,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 93,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 83,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 79,854
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 5,716
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cập nhật: 11/06/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80