Thị trường tiền tệ tuần 27-1.12:

“Tháo khoán” cho các ngân hàng giải ngân nhanh, giá vàng tăng nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Sự kiện tiền tệ đáng chú ý tuần qua là động thái “tháo khoán” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho những ngân hàng có tăng trưởng tín dụng tốt để điều tiết tối ưu tín dụng cho nền kinh tế. Trong khi đó, giá vàng cũng là một tâm điểm đáng chú với sức nóng tiếp tục gia tăng.
aa

“Tháo khoán” hạn mức tín dụng

Tuần qua, NHNN đã điều chỉnh việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại. Theo đó, NHNN cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) có dư nợ tín dụng đến nay đạt đến 80% chỉ tiêu tín dụng đã được chủ động bổ sung hạn mức tăng thêm dựa trên cơ sở xếp hạng năm 2022, đồng thời ưu tiên thêm cho những TCTD tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ và hạ lãi suất cho vay xuống mức thấp trong thời gian vừa qua. Việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần thiết phải đề nghị hoặc xin bổ sung.

Đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành để tăng trưởng tín dụng trong năm 2023 không vượt quá chỉ tiêu đã xác định, song vẫn đảm bảo dư địa tăng trưởng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế.

NHNN cũng yêu cầu các TCTD cấp tín dụng an toàn, lành mạnh, hỗ trợ doanh nghiệp, đảm bảo tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản lý rủi ro, khả năng huy động vốn, cũng như cân đối đủ nguồn vốn để cấp tín dụng. Các ngân hàng phải tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất huy động và tích cực giảm lãi suất cho vay, hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp.

“Tháo khoán” cho các ngân hàng giải ngân nhanh, giá vàng tăng nhiệt
Việc điều tiết tín dụng được thực hiện linh hoạt hơn. Ảnh: T.L
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng chấp hành nghiêm quy định về hoạt động đại lý bảo hiểm Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ nhiệt

VNBA nói về vai trò phối hợp các hiệp hội ngành nghề

Tuần qua, lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cũng có các nội dung trao đổi cho biết, các tổ chức ngành nghề cần có sự phối hợp tốt hơn để hỗ trợ nhau cùng khắc phục khó khăn.

Theo VNBA, để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp nói chung – trong đó có các doanh nghiệp bất động sản - ngoài các giải pháp mà Chính phủ cùng các bộ, ngành đã và đang triển khai, thì các doanh nghiệp luôn phải tự chủ trong kinh doanh, lường trước mọi rủi ro có thể xảy đến.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Quốc Hùng - iTổng Thứ ký VNBA cho biết, cần phát huy vai trò các hiệp hội ngành nghề để khi gặp khó khăn các tổ chức này sẽ thay mặt các doanh nghiệp làm việc với nhau để tìm cách tháo gỡ, tìm tiếng nói chung, đề xuất các giải pháp và kiến nghị lên các cơ quan quản lý.

Trường hợp không thể tháo gỡ được hoặc vượt thẩm quyền thì mới báo cáo Chính phủ, chứ không nên cứ gặp khó khăn là “kêu” lên Chính phủ.

“Nếu thực hiện được như trên sẽ phát huy được vai trò các hiệp hội ngành nghề, các tư lệnh ngành cùng vào cuộc và đưa ra quyết định trong thẩm quyền. Chính phủ được giảm tải trước khối lượng công việc quá nhiều như hiện nay” - ông Hùng nói.

Tỷ giá ổn định

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố diễn biến theo chiều hướng giảm trong khi diễn biến tỷ giá niêm yết của Vietcombank tăng. Tuy nhiên, mức biến động chung của tỷ giá trung tâm và của ngân hàng thương mại đều không lớn.

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ghi nhận ở mức 23.947 đồng/USD, nhưng đi vào xu hướng giảm trong các phiên sau đó, chốt phiên thứ sáu cuối tuần ở mức 23.923 đồng/USD.

Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra hôm đầu tuần là 24.415 đồng/USD, các phiên tiếp sau có diễn biến tăng nhẹ và cuối tuần ghi nhận mức 24.450 đồng/USD, tăng 35 đồng mỗi USD so với phiên đầu tuần.

Tháng 11 tiếp tục xuất siêu

Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa tháng 11/2023 xuất siêu 1,28 tỷ USD. Tính chung 11 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 25,83 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,3 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,99 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 45,82 tỷ USD.

Trong tuần qua, Tổng cục Thống kê cũng công bố các số liệu kinh tế vĩ mô tháng 11 cho biết, chỉ số giá USD tháng 11/2023 tăng 0,05% so với tháng trước; tăng 1,61% so với tháng 12/2022; giảm 1,03% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, các diễn biến kinh tế trong và ngoài nước đều có xu hướng có lợi có thẻ giá. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD vẫn ở mức thấp chỉ khoảng hơn 103 điểm, trong khi diễn biến hoạt động động thương mại của Việt Nam tiếp tục xuất siêu đang hỗ trợ làm tăng nguồn cung USD trong nước.

Ngoài ra, theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh, giai đoạn từ nay đến Tết thì nguồn cung ngoại tệ còn sẽ được bổ sung từ nguồn kiều hối.

“Tháo khoán” cho các ngân hàng giải ngân nhanh, giá vàng tăng nhiệt
Giá vàng thế giới và trong nước đều tăng mạnh trong tuần qua. Ảnh: T.L

Giá vàng phá kỷ lục

Tuần qua ghi nhận kỷ lục mới giá vàng khi vàng SJC 9999 bán ra đã vượt qua mốc lịch sử 74 triệu đồng/lượng. Vàng thời điểm cuối tuần, giá vàng đã đảo chiều giảm, nhưng vẫn ở mặt bằng giá khá cao. Cụ thể, giá vàng SJC 9999 hôm 1/12 ghi nhận giao dịch ở mức 72,3 triệu đồng/lượng mua vào và 73,5 triệu đồng/lượng bán ra.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế, vàng hiện đang là một kênh trú ẩn an toàn và hấp dẫn tại thời điểm này. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cũng cần hết sức cẩn trọng, do giá vàng có thể biến động nhanh chóng trong thời gian ngắn. Giai đoạn này, các nhà đầu tư phải theo dõi diễn biến thị trường vàng liên tục.

Giá vàng tăng một phần do diễn biến lãi suất trong nước giảm mạnh thời gian qua, hiện lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại một số ngân hàng thậm chí đã giảm xuống dưới 5%/năm, thấp hơn cả mức lãi suất giai đoạn trước dịch Covid-19. Trong khi đó, giá vàng thế giới cũng bước vào giai đoạn thăng hoa tăng mạnh cũng là yếu tố gây ảnh hưởng đến giá vàng trong nước tuần qua.

Chiều ngày 1/12 theo giờ Việt Nam, vàng thế giới vẫn tiếp tục đang giao dịch ở mặt bằng giá khá cao với khoảng 2.041 USD/ounce.

Điều tiết để tổng mức tăng trưởng không vượt quá chỉ tiêu chung

Theo NHNN, đến ngày 22/11/2023, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống mới đạt 8,21%, thấp hơn so với chỉ tiêu định hướng đầu năm. Mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống TCTD không đồng đều, nên NHNN thực hiện điều hòa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong toàn hệ thống từ TCTD không sử dụng hết chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng sang các TCTD cần được tiếp tục mở rộng tăng trưởng tín dụng.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▼12K 14,542 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▼12K 14,543 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▼12K 1,449 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▼12K 145 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▼12K 1,439 ▼12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼1188K 142,475 ▼1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼900K 108,086 ▼900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▼816K 98,012 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▲70251K 87,938 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼700K 84,052 ▼700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼501K 60,162 ▼501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cập nhật: 09/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18213 18488 19067
CAD 18294 18570 19190
CHF 31421 31800 32452
CNY 0 3823 3919
EUR 29545 29766 30847
GBP 34350 34741 35679
HKD 0 3175 3378
JPY 162 166 173
KRW 0 18 20
NZD 0 14879 15469
SGD 19971 20253 20833
THB 705 768 822
USD (1,2) 25665 0 0
USD (5,10,20) 25703 0 0
USD (50,100) 25731 25745 26115
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,602 29,626 31,033
JPY 164.36 164.66 174.63
GBP 34,530 34,623 35,832
AUD 18,404 18,470 19,181
CAD 18,492 18,551 19,237
CHF 31,688 31,787 32,728
SGD 20,109 20,172 20,963
CNY - 3,795 3,941
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.85 18.62 20.27
THB 752.57 761.86 815.77
NZD 14,881 15,019 15,465
SEK - 2,662 2,757
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,769 2,868
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,962.56 - 6,746.76
TWD 744.29 - 901.77
SAR - 6,795.37 7,162.51
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18424 18524 19449
CAD 18500 18600 19615
CHF 31709 31739 33329
CNY 3810.4 3835.4 3970.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29770 29800 31523
GBP 34694 34744 36502
HKD 0 3330 0
JPY 166.02 166.52 177.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15007 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20161 20291 21013
THB 0 735 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,737 25,787 26,180
USD20 25,707 25,787 26,180
USD1 25,687 25,787 26,180
AUD 18,462 18,562 19,678
EUR 29,543 29,643 31,303
CAD 18,444 18,544 19,852
SGD 20,226 20,376 21,063
JPY 166.12 167.62 173.17
GBP 34,572 34,722 35,780
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/09/2026 14:30
Ngân hàng