Giải bài toán liên kết doanh nghiệp trong nước với khối FDI

Thảo Miên
(TBTCO) - Theo TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Ban Quốc tế và chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), các ưu đãi đủ lớn kèm với các ràng buộc về chuyển giao công nghệ hoặc ràng buộc về liên kết sẽ giải quyết được bài toán liên kết giữa khối đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước.
aa

PV: Ông đánh giá như thế nào về mức độ liên kết giữa khối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hiện nay. Mối quan hệ này có cải thiện gì so với 5 - 10 năm trước không?

TS. Trần Toàn Thắng: Có thể thấy mối liên hệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước so với thời gian trước đã cải thiện rất nhiều. Nếu nhìn vào các supplier (nhà cung cấp) của các tập đoàn lớn thì có thể thấy, các supplier của Việt Nam đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng, từ supplier cấp 4, cấp 3, cấp 2 dần dần đã có một số vươn lên trở thành supplier cấp 1.

Được kỳ vọng là công cụ quan trọng để thúc đẩy liên kết và lan tỏa công nghệ trong nền kinh tế, nhưng trên thực tế, dòng vốn FDI vào Việt Nam đang hình thành một khu vực kinh tế tương đối biệt lập.

Giải bài toán liên kết doanh nghiệp trong nước với khối FDI
Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng và trở thành động lực mới để Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Ảnh: Đức Thanh

Tính đến năm 2024, khoảng 67% tổng vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo và phần lớn trong số đó chảy vào các khu công nghiệp. Báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho thấy, 7 tháng năm 2025, nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, thì vốn FDI đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,12 tỷ USD, chiếm 60,6% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm.

Với hơn 60% tổng vốn FDI đang hoạt động trong các khu vực chế biến, chế tạo cho thấy mức độ tập trung cao và ít gắn kết với khu vực kinh tế trong nước. Sự có mặt của FDI, chính vì vậy, không tạo ra được nhiều liên kết và lan tỏa tới khu vực trong nước. Phân tích cho thấy, cả 3 kênh liên kết chính (liên kết ngang, liên kết ngược, liên kết xuôi) giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đều yếu và có xu hướng suy giảm theo thời gian.

PV: Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân khiến mối liên kết giữa 2 khu vực này còn lỏng lẻo?

TS. Trần Toàn Thắng: Thực tế sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn lỏng lẻo một phần là do năng lực nội tại của doanh nghiệp trong nước tương đối yếu.

Gần đây, Đảng và Chính phủ đã có đột phá về mặt quan điểm khi công nhận kinh tế tư nhân là khu vực có vai trò quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Nhưng thể chế hóa như thế nào lại là cả một bước dài.

Còn về phía doanh nghiệp, do vốn mỏng, nền tảng mỏng nên đầu tư dài hạn cũng mỏng. Do đó, doanh nghiệp khó đầu tư được sâu hơn. Một điều nữa là chi phí cơ hội cho việc đầu tư trong manufacturing (chế tạo) hiện tại vẫn không đủ cao so với các ngành khác. Không có đủ doanh nghiệp lớn làm các nhà cung cấp là hạn chế hiện nay của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.

Giải bài toán liên kết doanh nghiệp trong nước với khối FDI
TS. Trần Toàn Thắng

Một lý do quan trọng khác dẫn đến liên kết yếu là FDI vào chế biến, chế tạo chủ yếu ở phân đoạn lắp ráp, có giá trị gia tăng thấp và dựa trên nguồn linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu. Trong khi đó, tham gia nhiều FTA, Việt Nam đã mở rất rộng thuế với hàng linh phụ kiện, tức cắt giảm thuế quan này rất sâu. Điều này cũng làm cho sản xuất trong nước không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.

Bên cạnh đó, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, từ năm 2016, chính sách phát triển doanh nghiệp hỗ trợ, phụ trợ được đưa ra, nhưng cho đến nay vẫn không có gì đột biến.

Tóm lại, nguyên nhân phần lớn là do các yếu tố yếu kém trong nội tại nền kinh tế, trong đó quan trọng là chính sách công nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ, và năng lực hấp thụ công nghệ còn hạn chế của các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư hiện hành vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm và chưa gắn với các điều kiện ràng buộc rõ ràng, dẫn đến hiệu quả lan tỏa từ FDI chưa đạt được như kỳ vọng. Giải quyết được những điểm nghẽn này sẽ giải được bài toán tăng cường liên kết giữa hai khu vực.

PV: Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, có thể thấy rất rõ vai trò của việc tăng cường liên kết FDI và nội địa. Nếu như không cải thiện được sự liên kết giữa hai khu vực này thì Việt Nam có thể đối mặt với rủi ro gì trong phát triển kinh tế độc lập, tự chủ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng?

TS. Trần Toàn Thắng: Nếu như không cải thiện được sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước thì rủi ro là hiển nhiên. Có thể thấy rất rõ trong căng thẳng thuế quan đối ứng vừa qua với Hoa Kỳ, giữa mức thuế hàng hóa trung chuyển (40%) với thuế 20% với hàng hóa xuất xứ Việt Nam là một rủi ro lớn. Với sự gia tăng của bất định thương mại toàn cầu, trong tương lai, không ai dám chắc những trường hợp tương tự như vậy sẽ không xảy ra.

Rủi ro của việc không liên kết là câu chuyện xuất khẩu nhiều thì nhập khẩu nhiều, hoặc là doanh nghiệp không chú trọng vào việc chế biến sâu, làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm sau khi nhập khẩu mà chỉ gia công, lắp ráp. Điều này làm cho hai nền kinh tế (FDI và khu vực trong nước) càng ngày càng tách rời. Tách rời về mặt công nghệ và thị trường, nhưng thực ra lại cạnh tranh với nhau trong thu hút đầu vào (về nguồn lực, về lao động và nhiều thứ khác), làm triệt tiêu cơ hội đầu tư của khu vực tư nhân trong nước. Khi càng ngày FDI càng đổ vào theo hướng như hiện tại hoặc là trước đây, tức là vào các ngành chế biến, chế tạo thiên về gia công, lắp ráp thì tác động tiêu cực sẽ càng lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp tư nhân.

PV: Theo ông, trong giai đoạn 2025-2030 việc liên kết với FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ chuyển biến theo hướng nào và có thể kỳ vọng về một thế hệ “doanh nghiệp Việt Nam toàn cầu” hay không?

TS. Trần Toàn Thắng: Với các Nghị quyết đột phá gần đây của Đảng, Chính phủ về doanh nghiệp tư nhân, chắc chắn khu vực doanh nghiệp này sẽ lớn hơn, nhanh hơn so với trước đây. Đó là một điểm tích cực vì doanh nghiệp càng lớn thì cơ hội để họ liên kết càng nhiều, không thể là doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ mà liên kết được với doanh nghiệp FDI, phải là những “ông lớn”. Tôi kỳ vọng sẽ cải thiện theo hướng đó, tức là có nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn hơn giúp cải thiện được tốt hơn vấn đề liên kết giữa khối FDI và doanh nghiệp trong nước.

Ràng buộc được khu vực FDI liên kết với doanh nghiệp trong nước không phải là điều dễ dàng. Để làm được điều này, ngoài các mệnh lệnh hành chính từ phía Chính phủ cũng cần song hành cùng các ưu đãi đủ lớn kèm với các ràng buộc về chuyển giao hoặc ràng buộc về liên kết với khu vực FDI, qua đó giải quyết được bài toán chuyển giao công nghệ.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thảo Miên (thực hiện)

Xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ thực chất

Theo TS. Trần Toàn Thắng, cần triển khai chương trình phát triển nhà cung cấp cấp quốc gia để hỗ trợ toàn diện các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tiềm năng về quản trị, công nghệ và tiếp cận tín dụng. Đồng thời, xây dựng nền tảng kết nối giữa doanh nghiệp FDI và nhà cung ứng trong nước để giải quyết vấn đề thiếu thông tin.

Thảo Miên

Đọc thêm

Khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư phải về đích trong quý II/2026

Khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư phải về đích trong quý II/2026

(TBTCO) - Hàng chục nghìn cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy đã được xác định chủ thể quản lý, nhưng một khối lượng lớn vẫn còn phải xử lý ở bước tiếp theo để đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả. Trong khi đó, yêu cầu hoàn thành xử lý trong quý II/2026 đang đến gần. Bà Trần Diệu An - Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính cho rằng, nếu không có giải pháp đủ mạnh, đồng bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, nguy cơ chậm tiến độ là rất rõ ràng.
Kinh tế Halal là “chìa khóa” mở rộng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ

Kinh tế Halal là “chìa khóa” mở rộng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ

(TBTCO) - Thị trường hơn 200 triệu người Hồi giáo tại Ấn Độ đang mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam, song kim ngạch xuất khẩu Halal vẫn còn khiêm tốn. Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Đinh Công Hoàng - Trưởng Phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ là “đòn bẩy” quan trọng để hai nước thúc đẩy hợp tác, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Halal.
Điều chỉnh quy hoạch quốc gia mở đường cho mô hình tăng trưởng mới

Điều chỉnh quy hoạch quốc gia mở đường cho mô hình tăng trưởng mới

(TBTCO) - Theo Thứ trưởng Trần Quốc Phương, việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và 6 quy hoạch vùng thể hiện rõ quan điểm phát triển mới của Việt Nam trong giai đoạn tới. Những ngành động lực mới, các hành lang kinh tế chiến lược và định hướng lấy khoa học công nghệ làm trung tâm đang mở đường cho quá trình xác lập mô hình tăng trưởng của đất nước.
Trao quyền mạnh hơn cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Trao quyền mạnh hơn cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, khung pháp lý mới đang mở đường để doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò tiên phong, “sếu đầu đàn”. Bên cạnh tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước, chính sách cũng cần chuyển sang đo lường hiệu quả tổng thể, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó, tạo động lực thúc đẩy khu vực này đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Ngành Tài chính đóng vai trò tiên phong trong chặng đường phát triển mới

Ngành Tài chính đóng vai trò tiên phong trong chặng đường phát triển mới

(TBTCO) - TS. Nguyễn Như Quỳnh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, ưu tiên chiến lược của ngành Tài chính trong giai đoạn mới là vừa bảo đảm an toàn nền tài chính quốc gia, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò dẫn dắt của chính sách tài chính trong nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực công. Đây là yêu cầu có ý nghĩa rất quan trọng để góp phần thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Xây trục sản phẩm chiến lược, VIFC-HCMC sẵn sàng đón dòng vốn toàn cầu

Xây trục sản phẩm chiến lược, VIFC-HCMC sẵn sàng đón dòng vốn toàn cầu

(TBTCO) - Việc xây dựng các sản phẩm tài chính chủ lực được xem là bước đi quan trọng để Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) hình thành lợi thế cạnh tranh và thu hút dòng vốn quy mô lớn từ thị trường toàn cầu. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan Điều hành VIFC-HCMC trao đổi về vấn đề này.
Năm 2026: Phép thử của năng lực cải cách thể chế

Năm 2026: Phép thử của năng lực cải cách thể chế

(TBTCO) - Mục tiêu tăng trưởng của năm 2026 phản ánh quyết tâm rất lớn của Việt Nam trong việc tạo đà cho giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, theo GS.TS Tô Trung Thành - Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2026 không chỉ là phép thử đối với năng lực điều hành kinh tế vĩ mô, mà còn là phép thử của cải cách thể chế. Việc đạt được mục tiêu tăng trưởng cao phụ thuộc lớn vào khả năng triển khai hiệu quả các cải cách thể chế, nâng cao chất lượng chính sách.
Giá bất động sản neo cao, thị trường đang “thanh lọc”

Giá bất động sản neo cao, thị trường đang “thanh lọc”

(TBTCO) - Thị trường bất động sản năm 2026 đang đứng trước nhiều chuyển động lớn khi các yếu tố vĩ mô, chính sách và chi phí đầu vào đồng thời tác động. Trao đổi với phóng viên, bà Nguyễn Lê Dung - Trưởng Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Hà Nội đã chia sẻ góc nhìn về diễn biến thị trường và chiến lược thích ứng trong bối cảnh mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều