Tốc độ tăng lãi các ngân hàng dự báo chậm lại và áp lực vẫn còn

Diệu Khiết
(TBTCO) - Theo các chuyên gia từ MBS Research, ngành ngân hàng được dự báo có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trong quý II chậm lại ở mức 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, ngân hàng còn tiếp tục chịu áp lực giảm lãi suất cho vay trong khi lãi suất huy động tăng.
aa

Tăng trưởng lợi nhuận quý II có thể giảm nhẹ

Theo các chuyên gia MBS Research, tốc độ ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận quý II/2024 có thể giảm nhẹ. Cụ thể, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng sẽ tiếp tục chịu áp lực giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do lãi suất cho vay dự báo sẽ giảm thêm, trong khi lãi suất huy động lại tăng nhẹ ở hầu hết các ngân hàng.

"Lãi sau thuế các ngân hàng sẽ có mức tăng trưởng không cao. Một số ngân hàng có tăng trưởng tín dụng tốt sẽ ghi nhận mức tăng nổi bật, trong khi những ngân hàng có lợi nhuận cùng kỳ năm ngoái ở mức cao sẽ gặp khó khăn và ghi nhận tăng trưởng âm trong lợi nhuận sau thuế" - MBS Research.

Mặc dù tăng trưởng tín dụng trong quý II được dự báo sẽ khả quan hơn so với quý I, với ước tính đạt 4,17% vào ngày 20/6/2024 so với mức 0,26% vào cuối quý I/2024, nhưng vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Do đó, thu nhập lãi thuần vẫn chưa thể tăng mạnh.

Không những thế, theo các chuyên gia của MBS Research, thu nhập ngoài lãi cũng chưa có dấu hiệu phục hồi khi vẫn chủ yếu dựa vào mảng thu phí và xử lý nợ. Hoạt động kinh doanh ngoại hối và chứng khoán cũng không dự báo sẽ có mức tăng trưởng cao. Chi phí trích lập dự phòng sẽ tiếp tục tăng, khi nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại trong quý II này. Xu hướng tăng nợ xấu (NPL) và giảm tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLR) đang trở thành xu hướng chung của toàn ngành ngân hàng.

Ngân hàng tiếp tục chịu áp lực về giảm lãi suất cho vay, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giảm trong quý II
Dự báo của MBS về lợi nhuận một số ngân hàng. Nguồn: MBS Research.

Bức tranh tổng thể còn đầy thách thức

Nhìn chung, lợi nhuận sau thuế (LNST) của các ngân hàng sẽ có mức tăng trưởng không cao. Một số ngân hàng có tăng trưởng tín dụng tốt sẽ ghi nhận mức tăng nổi bật, trong khi những ngân hàng có lợi nhuận cùng kỳ năm ngoái ở mức cao sẽ gặp khó khăn và ghi nhận tăng trưởng âm trong lợi nhuận sau thuế. Điều này phản ánh một bức tranh tổng thể đầy thách thức cho ngành ngân hàng trong thời gian tới" - Chuyên gia MBS cho hay.

Trước đó, trong một báo cáo về ngành ngân hàng của VIS Rating cho biết, tỷ lệ NPL trung bình toàn ngành này đã tăng lên 2,2% trong 3 tháng 2024, từ mức 1,9% vào năm 2023 do cho vay bán lẻ. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROAA) của các ngân hàng cải thiện nhẹ lên 1,6% từ 1,5% trong cùng khoảng thời gian do chi phí tín dụng thấp hơn và NIM cải thiện. Lợi nhuận của ngân hàng sẽ tiếp tục cải thiện trong năm 2024 nhờ điều kiện hoạt động trong nước tốt hơn và lãi suất thấp hỗ trợ khả năng trả nợ của người đi vay và NIM cải thiện hơn. Nguồn vốn và thanh khoản sẽ duy trì ổn định nhờ tăng trưởng tiền gửi theo kịp tăng trưởng cho vay và các ngân hàng tăng nguồn vốn dài hạn.

Tuy vậy, theo VIS Rating, khả năng sinh lời được cải thiện khiêm tốn nhờ NIM tăng và chi phí tín dụng thấp hơn. Trong các quý tới, nhu cầu tín dụng sẽ dần tăng và NIM sẽ cải thiện so với mức năm 2023, từ đó thúc đẩy ROAA của các ngân hàng tăng dần.

Ngân hàng tiếp tục chịu áp lực về giảm lãi suất cho vay, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giảm trong quý II

Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng thương mại (so với tháng trước). Nguồn: FiinRatings.

Trong cùng diễn biến, tại báo cáo mới nhất của FiinRatings, các chuyên gia nhận định rằng, mặc dù lãi suất huy động tại các ngân hàng tư nhân đã chạm đáy từ tháng 4, nhưng mặt bằng lãi suất tại các ngân hàng quốc doanh (nhóm Big4 ngân hàng) vẫn duy trì ổn định.

Dữ liệu từ báo cáo cho thấy, trong tháng 5 và tháng 6, lãi suất tiết kiệm 12 tháng trung bình của các ngân hàng tư nhân đã tăng lần lượt 19 và 17 điểm cơ bản so với tháng trước đó. Với sự giảm bớt thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, các chuyên gia dự báo sẽ dẫn tới việc các ngân hàng quốc doanh tăng lãi suất huy động trong thời gian tới.

Theo các chuyên gia, việc lãi suất huy động có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới, trong bối cảnh lãi suất cho vay vẫn được yêu cầu giảm thêm để hỗ trợ doanh nghiệp, phục hồi kinh tế sẽ là áp lực cho các ngân hàng thương mại duy trì tốc độ tăng trưởng rất cao như thời gian qua. Mặt khác, nợ xấu tăng và chất lượng tài sản suy giảm cũng là yếu tố quan trọng có thể hãm tốc động tăng trưởng lợi nhuận cho ngành ngân hàng thời gian tới./.

Theo dự báo từ nhóm chuyên gia của WiResearch (Công ty Wigroup) về xu hướng lãi suất sắp tới, lãi suất huy động tại các nhóm ngân hàng thương mại lớn và một số ngân hàng thương mại khác ở các kỳ hạn ngắn tăng nhẹ 0,2 - 0,5 điểm % trong tháng 5 so với tháng trước. Ở nhóm ngân hàng quốc doanh không có biến động lãi suất. Vì vậy, việc lãi suất nhích lên cho thấy nhu cầu về vốn là có nhưng chỉ ngắn hạn, xảy ra cục bộ ở một số ngân hàng. Mặt bằng chung lãi suất tiền gửi ở tất cả nhóm ngân hàng thương mại đang tiếp tục duy trì ở mức thấp, cho thấy thanh khoản của hệ thống vẫn ổn định. Lãi suất huy động sẽ duy trì ở mức hiện tại trước khi nhu cầu tín dụng tăng cao hơn trong nửa cuối năm./.
Diệu Khiết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 30/03/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80