Hồi sinh quyền năng tại Nghị quyết 42, ngân hàng thoát áp lực trích lập dự phòng mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo VIS Rating, việc thông qua Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi giúp khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm không bị tranh chấp, từng áp dụng theo Nghị quyết 42. Trước đó, khi quyền năng không còn, ngân hàng phải xử lý nợ xấu qua trích lập dự phòng và xóa nợ, chiếm 30 - 40% vốn chủ sở hữu.
aa

Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm

Dự phòng rủi ro "gồng mình" gánh nợ xấu, sớm lấp khoảng trống sau Nghị quyết 42 Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Ngày 27/6, VIS Rating ban hành báo cáo cập nhật ngành ngân hàng sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, nhằm hỗ trợ khả năng thu hồi nợ xấu của các ngân hàng và trao quyền cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để có thể hỗ trợ kịp thời các tổ chức tín dụng gặp khó khăn một cách hiệu quả hơn.

Theo đó, Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm đối với các tài sản không bị tranh chấp và không bị kê biên trong một số vụ án hình sự, đây là cơ chế từng được Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) cho phép áp dụng giai đoạn 2017 - 2023.

Trong thời gian có hiệu lực, Nghị quyết 42 giúp tăng 65% quy mô nợ xấu được xử lý hằng tháng, tỷ lệ khách hàng tự trả nợ trên tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý tăng lên 36%, so với mức 23% trong giai đoạn 2012 - 2017.

"Khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực vào tháng 12/2023, việc thu hồi tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn, chủ yếu phải dựa vào sự hợp tác của khách hàng hoặc thông qua thủ tục tố tụng kéo dài, dẫn đến tỷ lệ thu hồi nợ tại các ngân hàng giảm mạnh" - VIS Rating đánh giá.

Hồi sinh quyền năng tại Nghị quyết 42, ngân hàng thoát áp lực trích lập dự phòng mạnh
Nguồn: VIS Rating.

Trong nửa đầu năm 2024, một nửa số nợ xấu được các ngân hàng xử lý thông qua hoạt động trích lập dự phòng và xóa nợ, với giá trị trung bình chiếm khoảng 30 - 40% tổng vốn chủ sở hữu. Thị trường bất động sản trầm lắng cũng khiến thu nhập từ việc xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro giảm từ mức 40% giai đoạn 2021 - 2022 xuống chỉ còn 27% trong năm 2024.

Ngoài ra, theo phản ánh từ một số ngân hàng như VPBank, dưới 30% hồ sơ liên quan đến thu hồi tài sản được tòa án tiếp nhận và giải quyết, trong khi thời gian xử lý các vụ việc thường kéo dài từ 5 - 7 năm.

Loạt ngân hàng bán lẻ kỳ vọng hưởng lợi

Theo VIS Rating, Luật sửa đổi hiện đã khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm, giúp đẩy nhanh tiến độ thu hồi nợ xấu, cải thiện chất lượng tài sản và khả năng sinh lời của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng bán lẻ hoặc ít cho vay vào phân khúc bất động sản đầu cơ. Giai đoạn 2022 - 2025, tỷ lệ nợ có vấn đề tại các ngân hàng như ACB, OCB, VIB, VPBank, MB tăng trung bình từ 1,6% lên 2,2%, chủ yếu đến từ các khoản vay mua nhà thế chấp và vay hộ kinh doanh.

Trong khi việc thanh lý nhà ở được hỗ trợ bởi nhu cầu thực, các tài sản bảo đảm liên quan đến bất động sản nghỉ dưỡng hoặc đầu cơ lại gặp khó khăn do dư cung và tâm lý thị trường thận trọng.

Một điểm quan trọng khác của Luật sửa đổi là trao quyền cho Ngân hàng Nhà nước phê duyệt các khoản vay đặc biệt với lãi suất 0% dành cho các tổ chức tín dụng yếu kém, qua đó, cho phép cơ quan quản lý can thiệp sớm và duy trì ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng.

"Chúng tôi kỳ vọng rằng Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi sẽ góp phần hỗ trợ lợi nhuận của các ngân hàng thông qua việc cải thiện thu từ xử lý nợ và giảm chi phí vận hành, đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản được dự báo sẽ phục hồi trở lại trong năm 2025" - VIS Rating nhìn nhận.

Theo đó, các điểm chính của Luật sửa đổi bao gồm: một là, thu giữ tài sản bảo đảm. Theo đó, tổ chức tín dụng và công ty quản lý tài sản được phép thu giữ tài sản bảo đảm không bị tranh chấp. Đồng thời, hỗ trợ xử lý nợ xấu nhanh, tiết kiệm chi phí, cải thiện chất lượng tài sản và lợi nhuận ngân hàng.

Hai là, kê biên và hoàn trả tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm không bị kê biên, trừ các trường hợp đặc biệt như bản án về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Cơ quan tố tụng có trách nhiệm hoàn trả vật chứng là tài sản bảo đảm nếu không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án hình sự. Từ đó, đảm bảo quyền lợi của chủ nợ và tiến độ thu hồi nợ.

Ba là, cho vay đặc biệt. Luật sửa đổi cho phép Ngân hàng Nhà nước phê duyệt khoản vay đặc biệt với lãi suất 0% cho các ngân hàng yếu kém. Từ đó, tăng quyền can thiệp và hỗ trợ sớm cho các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, góp phần ổn định hệ thống ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80