Dự phòng rủi ro "gồng mình" gánh nợ xấu, sớm lấp khoảng trống sau Nghị quyết 42

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy, chỉ 36% khách hàng chủ động trả nợ, phần lớn nợ xấu được xử lý bằng cách trích lập dự phòng rủi ro, tức lấy từ lợi nhuận ngân hàng ra để bù vào. Trước thực tế này, các chuyên gia đề xuất luật hóa một số quy định trong Nghị quyết 42 để lấp khoảng trống pháp lý, đặc biệt trong xử lý nợ xấu.
aa
Dự phòng rủi ro

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa phối hợp với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) tổ chức Tọa đàm "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024". Tọa đàm đánh giá về những thay đổi trong dự thảo sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, phân tích những bất cập và đưa ra một số kiến nghị để luật hóa, tháo gỡ những khó khăn, đặc biệt trong việc xử lý nợ xấu, giúp cơ quan soạn thảo hoàn thiện dự thảo trước khi trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV dự kiến khai mạc vào tháng 5/2025.

Chỉ 36% khách hàng chủ động trả nợ

Trao đổi tại tọa đàm, ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, khi Luật Các Tổ chức tín dụng 2024 được thông qua không có nội dung về thu giữ tài sản bảo đảm trong quá trình xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Cùng với đó, Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã hết hiệu lực vào ngày 31/12/2023. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xử lý, thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng và tổ chức mua bán, xử lý nợ.

Xử lý nợ xấu chủ yếu thông qua trích dự phòng rủi ro

“Nguồn xử lý nợ xấu chủ yếu đến từ việc các tổ chức tín dụng trích từ dự phòng rủi ro. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, cũng như giảm nguồn lực hỗ trợ ngược lại các doanh nghiệp, dòng tiền không luân chuyển được, ảnh hưởng đến thanh khoản, nếu không xử lý kịp thời” - ông Nguyễn Quốc Hùng phân tích.

Thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cho thấy, trong năm 2024, tỷ lệ thu hồi nợ chủ yếu từ tài sản bảo đảm đạt khoảng 46,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ khách hàng chủ động trả nợ cho ngân hàng đối với khoản nợ xấu chỉ đạt 36%, phần còn lại là nợ được bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) hoặc thực hiện thi hành án thông qua việc bán tài sản bảo đảm, với tổng giá trị khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ rất thấp.

Cùng với đó, tính từ đầu năm 2025, nợ xấu gia tăng nhanh chóng, tăng thêm khoảng 34 nghìn tỷ đồng, trong khi tốc độ xử lý nợ xấu chỉ đạt khoảng 15 nghìn tỷ đồng.

Lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bảo vệ cho cái sai. Người vay có nghĩa vụ trả nợ đúng cam kết, thay vì vay xong rồi cố tình chây ì, trốn tránh trách nhiệm, chỉ trả gốc mà không trả lãi, hoặc thậm chí tham gia các hội nhóm kêu gọi bùng nợ.

Cùng chung quan điểm, theo TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế trưởng Viện Đào tạo và Nghiên cứu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), điều đáng tiếc là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 không luật hóa một số quy định trong Nghị quyết số 42 như quyền thu giữ tài sản bảo đảm, ảnh hưởng tới khả năng xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Sửa đổi Luật lần này nhằm lấp khoảng trống pháp lý, góp phần quan trọng hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế và thực thi pháp luật, vốn dĩ đang là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, lực cản rất lớn. Đây cũng là cơ hội tốt để sửa đổi đồng bộ các quy định pháp luật liên quan như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Tố tụng dân sự năm 2015…

Luật hoá, kịp thời lấp khoảng trống pháp lý

Tại tọa đàm, nhóm phân tích từ Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đưa ra 7 kiến nghị khi sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng. Cụ thể, về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng, kế thừa quyền thu giữ tài sản bảo đảm, giúp tổ chức tín dụng có cơ chế để chủ động thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm. Việc bổ sung quy định này cũng là luật hóa “quyền chủ nợ” theo thông lệ.

Phương thức thu giữ tài sản bảo đảm sẽ phát huy hiệu quả tích cực trong một số trường hợp nhất định như: bên bảo đảm rời khỏi địa phương; tài sản bảo đảm không có người quản lý; tài sản bảo đảm là đất trống…

"Việc tổ chức tín dụng được quyền chủ động thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ thay vì phải khởi kiện ra Tòa án, tổ chức thi hành án sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí cho các bên có liên quan cũng như tiết kiệm, giảm lãng phí nguồn lực xã hội" - đại diện Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá.

Về cơ chế xử lý tài sản bảo đảm là vật chứng, tang chứng vụ án hình sự trước đây cũng được quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 42. Tuy nhiên, đến nay chưa có văn bản luật nào kế thừa, quy định về nội dung này, dẫn đến tài sản bảo đảm không được đưa ra xử lý kịp thời. Việc thu hồi nợ của tổ chức tín dụng bị kéo dài nhiều năm theo thời gian giải quyết vụ án hình sự, ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý nợ xấu cũng như quyền lợi hợp pháp của các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, hiện nay pháp luật cũng chưa có quy định về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là tang vật trong vụ việc vi phạm hành chính cho tổ chức tín dụng. “Rõ ràng là cần luật hóa ba điểm này để kịp thời lấp khoảng trống pháp lý” - ông Lực nêu rõ.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu từ Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV còn đưa ra các kiến nghị về xử lý tài sản bảo đảm là quyền khai thác khoáng sản, về tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Luật Phá sản, vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án; quy định đối tượng/tổ chức mua - bán nợ. Ngoài ra, cần bổ sung quy định đảm bảo nhất quán với các văn bản pháp luật khác.

Đảm bảo tính nhân văn, tránh lạm dụng quyền thu giữ

Tuần qua, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng tổ chức tọa đàm “Lấy ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng”.

Báo cáo về nội dung của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Tạ Quang Đông cho biết, dự thảo Luật bổ sung quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm, kê biên tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự và quy định về hoàn trả tài sản bảo đảm là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1, Điều 193 Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành để điều chuyển thẩm quyền quyết định việc cho vay đặc biệt của NHNN. Theo đó, NHNN quyết định cho vay đặc biệt (có hoặc không có tài sản bảo đảm) đối với tổ chức tín dụng; lãi suất cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước là 0%/năm.

Liên quan đến Điều 198 của Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng, tổ chức mua bán và xử lý nợ trong quá trình xử lý nợ xấu, các đại biểu cho rằng cần làm rõ hơn các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm. Việc thực thi cần đảm bảo yếu tố “nhân văn”, tránh tình trạng lạm dụng quyền thu giữ, gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay vốn trong quá trình xử lý nợ xấu.

Cơ quan chủ trì thẩm tra sẽ phối hợp chặt chẽ với ban soạn thảo để tiếp thu đầy đủ các ý kiến trước khi trình dự thảo Luật lên Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu

(TBTCO) - PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 275,7 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, hoàn thành gần 20% kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ bứt phá của thu nhập ngoài lãi, cùng với việc giảm mạnh chi phí dự phòng.
MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB báo lãi hơn 9.600 tỷ đồng quý I/2026, thu nhập lãi thuần lập đỉnh

MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 9.628,4 tỷ đồng, tăng 14,8% cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần lập đỉnh và mảng dịch vụ tăng trưởng tích cực. Dư nợ cho vay hợp nhất đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm, trong khi kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 02/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80