Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

Chí Tín
(TBTCO) - Trong một số ngày gần đây, tỷ giá đồng Việt Nam so với USD có biểu hiện “gợn sóng”. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, các bối cảnh kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước đều cho thấy tỷ giá vẫn có thể giữ ổn định về mặt trung và dài hạn.
aa
Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại
Nguồn: Vietcombank. Đồ họa: Phương Anh

Tỷ giá lăn tăn sóng

Diễn biến tỷ giá có phần nhúc nhích tăng từ sau đợt nghỉ Tết phần nào thu hút sự quan tâm của giới kinh doanh.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra do Vietcombank công bố thời điểm trước nghỉ Tết chỉ khoảng 24.530 đồng/USD, nhưng sau đó có tín hiệu nhích tăng dần. Cụ thể, tỷ giá hôm 15/2, tức ngày đầu tiên đi làm trở lại sau đợt nghỉ Tết là 24.610 đồng/USD, tiếp đó tăng lên mặt bằng khoảng trên 24.700 đồng/USD vào tuần thứ hai đi làm và tiếp tục leo dốc lên mặt bằng trên 24.800 đồng/USD vào tuần thứ ba đi làm kể từ sau đợt nghỉ. Hiện tại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank đang niêm yết ở mức 24.820 đồng/USD.

Thống kê chỉ số giá USD

Số liệu công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá USD tháng 2/2024 tăng 0,4% so với tháng trước; tăng 0,92% so với tháng 12/2023; tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 2 tháng đầu năm 2024 tăng 3,79%.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố cũng được điều chỉnh tăng dần trong giai đoạn nửa cuối tháng 2/2024. Cụ thể, tỷ giá trung tâm ghi nhận tại ngày 16/2 là 23.971 đồng/USD, sau đó nhích dần theo xu hướng tăng và vượt mốc 24.000 đồng/USD vào ngày 26/2. Sau khi đạt đỉnh ở mức 24.014 đồng/USD vào ngày 27/2, tỷ giá trung tâm có phần giảm nhẹ, nhưng vẫn còn ở mức cao so với thời điểm giữa tháng 2/2023.

Một điểm đáng lưu ý khác của diễn biến tỷ giá thời gian gần đây là thị trường tự do, nếu như trước Tết vẫn ở mức dưới 25.000 đồng/USD thì nay đã vượt lên khá xa so với mức trên.

Điều đáng chú ý trong diễn biến tỷ giá trong nước tăng trong giai đoạn khoảng hơn nửa tháng qua diễn ra trong bối cảnh giá đồng USD trên thị trường quốc tế đã bình ổn trở lại. Cụ thể, sau chu kỳ phục hồi diễn ra từ cuối tháng 12/2023 đến giữa tháng 2/2024, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD diễn biến gần như chỉ đi ngang trong suốt nửa cuối tháng 2, hiện đang ở mức khoảng 104 điểm.

Khó có thể tăng mạnh

Hiện tại, một trong những yếu tố cho thấy nguồn cung ngoại tệ có thể giảm so với trước Tết là nguồn kiều hối thường tập trung mạnh trong giai đoạn trước Tết và chững lại sau Tết. Đây cũng là thông lệ thường gặp trong nhiều năm nay, theo đó, ngoài yếu tố ảnh hưởng trực tiếp do giảm kiều hối, thì điều đó ít nhiều ảnh hưởng tâm lý khiến tỷ giá thị trường tự do có thể có nhúc nhích tăng.

Tuy nhiên, các thông tin vĩ mô cho thấy cán cân cung cầu ngoại tệ vẫn khá tích cực đảm bảo khả năng ổn định tỷ giá trong hiện tại và lâu dài. Số liệu do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 59,34 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước và kim ngạch nhập khẩu ước đạt 54,62 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa 2 tháng đầu năm 2024 ước tính xuất siêu 4,72 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,5 tỷ USD). Về đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 2 tháng năm 2024 ước đạt 2,8 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Michael Kokalari, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital cho biết, doanh thu ngành PC (máy tính cá nhân) toàn cầu đã giảm 30% so với cùng kỳ vào đầu năm 2023, nhưng đã tăng trưởng trở lại từ khoảng cuối năm 2023, một phần do người dùng nâng cấp máy cấu hình cao hơn để xử lý AI (trí tuệ nhân tạo).

Doanh thu điện thoại thông minh toàn cầu cũng tăng trưởng trở lại vào cuối năm 2023 lần đầu tiên trong 2 năm, dù sự hồi phục không rõ rệt như ở mảng máy tính vì các sản phẩm mới thiếu các chức năng đủ hấp dẫn để thúc đẩy người dùng nâng cấp. Trong khi đó, máy tính và linh kiện điện tử là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng đưa ra cảnh báo cho biết, sự phục hồi kinh tế cũng có thể là yếu tố gây áp lực lên tỷ giá. Lý do là, các doanh nghiệp sau khi tiêu thụ bớt lượng hàng tồn kho đã có từ trước có thể phát sinh nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu mới phục vụ sản xuất làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính thuộc Học viện Tài chính cho biết, yếu tố như trên đúng là có thể có khi kinh tế phục hồi, nhưng áp lực lên tỷ giá từ việc đó cũng sẽ không quá lớn. Trong bối cảnh đó, trạng thái xuất siêu có thể không lớn như giai đoạn năm 2023, nhưng có thể cán cân thương mại vẫn duy trì khả năng xuất siêu, nhưng ở mức độ ít hơn.

Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

TS. NGUYỄN ĐỨC ĐỘ - PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIỆN KINH TẾ - TÀI CHÍNH, HỌC VIỆN TÀI CHÍNH:

Một số yếu tố tác động chỉ ở mức độ nhẹ và tạm thời

Tôi cho rằng, tỷ giá một số thời điểm có phần bị tác động do một số lý do như đồng USD có tăng giá phần nào trên thị trường quốc tế, trong khi tại thị trường trong nước cũng có yếu tố tác động lên tỷ giá, nhất là tỷ giá thị trường tự do do một số nhà đầu tư gom mua USD để đầu cơ vàng.

Tuy nhiên, các yếu tố trên nếu có tác động thì chỉ là tác động nhẹ và chỉ mang tính thời điểm, không thể tạo được sự ảnh hưởng đáng kể về mặt trung và dài hạn lên tỷ giá.

Trong khi đó, các yếu tố nền tảng vẫn cho thấy tỷ giá sẽ vẫn giữ được sự ổn định. Ở yếu tố quốc tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ thực hiện các đợt giảm lãi suất trong năm 2024 và điều đó có thể làm cho đồng USD giảm giá trên thị trường quốc tế. Trong khi đó với yếu tố trong nước, cán cân thương mại vẫn tiếp tục trong trạng thái xuất siêu trong thời gian dài trong các năm trước và tiếp tục giữ trạng thái xuất siêu cho đến hiện tại.

Việc kinh tế phục hồi có thể tăng nhu cầu nhập khẩu và từ đó nhu cầu về ngoại tệ có thể tăng lên, nhưng theo tôi việc đó có thể sẽ chỉ làm cho quy mô xuất siêu giảm hơn so với hiện nay, nhưng cán cân thương mại vẫn có thể vẫn giữ được trạng thái xuất siêu chứ sẽ khó khả năng đảo ngược sang trạng thái nhập siêu.

ÔNG MICHAEL KOKALARI - GIÁM ĐỐC PHÒNG PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG, VINACAPITAL:

Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

Các đơn hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tăng trở lại

Năm 2023, xuất khẩu Việt Nam ghi nhận tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gây ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng GDP năm 2023 trong bối cảnh giá trị xuất khẩu đạt bình quân 90% GDP trong giai đoạn 2019 - 2022.

Tuy nhiên, xuất khẩu tiếp tục đà tăng từ quý IV/2023 và tiếp tục tăng vào đầu năm 2024, trong đó có sự đóng góp đáng kể nhờ sức tăng của mảng xuất khẩu sản phẩm điện tử công nghệ cao.

Về trạng thái thị trường xuất khẩu của Việt Nam, trước đây các doanh nghiệp Mỹ đã đặt hàng quá nhiều các sản phẩm “Made in Vietnam” trong thời điểm gián đoạn chuỗi cung ứng do Covid-19 và phải cắt giảm đơn đặt hàng cho các sản phẩm này năm ngoái để giảm lượng hàng tồn.

Tuy nhiên, sau đợt giảm hàng tồn kho nhanh nhất trong hơn 10 năm, xu hướng đó sắp kết thúc. Vì vậy, các đơn đặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trở lại và chúng tôi kỳ vọng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong các tháng tới nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ.

Hiện nay, tăng trưởng xuất khẩu cao hơn tăng trưởng sản xuất và điều này khiến hàng tồn kho của các nhà sản xuất giảm. Sự kết hợp của sụt giảm hàng tồn kho và tăng đơn hàng mới đồng nghĩa với hoạt động sản xuất của các nhà máy tại Việt Nam sẽ cần đẩy mạnh để đáp ứng được nhu cầu tăng cao cho các sản phẩm “Made in Vietnam”.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80