Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

Chí Tín
(TBTCO) - Trong một số ngày gần đây, tỷ giá đồng Việt Nam so với USD có biểu hiện “gợn sóng”. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, các bối cảnh kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước đều cho thấy tỷ giá vẫn có thể giữ ổn định về mặt trung và dài hạn.
aa
Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại
Nguồn: Vietcombank. Đồ họa: Phương Anh

Tỷ giá lăn tăn sóng

Diễn biến tỷ giá có phần nhúc nhích tăng từ sau đợt nghỉ Tết phần nào thu hút sự quan tâm của giới kinh doanh.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra do Vietcombank công bố thời điểm trước nghỉ Tết chỉ khoảng 24.530 đồng/USD, nhưng sau đó có tín hiệu nhích tăng dần. Cụ thể, tỷ giá hôm 15/2, tức ngày đầu tiên đi làm trở lại sau đợt nghỉ Tết là 24.610 đồng/USD, tiếp đó tăng lên mặt bằng khoảng trên 24.700 đồng/USD vào tuần thứ hai đi làm và tiếp tục leo dốc lên mặt bằng trên 24.800 đồng/USD vào tuần thứ ba đi làm kể từ sau đợt nghỉ. Hiện tại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank đang niêm yết ở mức 24.820 đồng/USD.

Thống kê chỉ số giá USD

Số liệu công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá USD tháng 2/2024 tăng 0,4% so với tháng trước; tăng 0,92% so với tháng 12/2023; tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 2 tháng đầu năm 2024 tăng 3,79%.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố cũng được điều chỉnh tăng dần trong giai đoạn nửa cuối tháng 2/2024. Cụ thể, tỷ giá trung tâm ghi nhận tại ngày 16/2 là 23.971 đồng/USD, sau đó nhích dần theo xu hướng tăng và vượt mốc 24.000 đồng/USD vào ngày 26/2. Sau khi đạt đỉnh ở mức 24.014 đồng/USD vào ngày 27/2, tỷ giá trung tâm có phần giảm nhẹ, nhưng vẫn còn ở mức cao so với thời điểm giữa tháng 2/2023.

Một điểm đáng lưu ý khác của diễn biến tỷ giá thời gian gần đây là thị trường tự do, nếu như trước Tết vẫn ở mức dưới 25.000 đồng/USD thì nay đã vượt lên khá xa so với mức trên.

Điều đáng chú ý trong diễn biến tỷ giá trong nước tăng trong giai đoạn khoảng hơn nửa tháng qua diễn ra trong bối cảnh giá đồng USD trên thị trường quốc tế đã bình ổn trở lại. Cụ thể, sau chu kỳ phục hồi diễn ra từ cuối tháng 12/2023 đến giữa tháng 2/2024, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD diễn biến gần như chỉ đi ngang trong suốt nửa cuối tháng 2, hiện đang ở mức khoảng 104 điểm.

Khó có thể tăng mạnh

Hiện tại, một trong những yếu tố cho thấy nguồn cung ngoại tệ có thể giảm so với trước Tết là nguồn kiều hối thường tập trung mạnh trong giai đoạn trước Tết và chững lại sau Tết. Đây cũng là thông lệ thường gặp trong nhiều năm nay, theo đó, ngoài yếu tố ảnh hưởng trực tiếp do giảm kiều hối, thì điều đó ít nhiều ảnh hưởng tâm lý khiến tỷ giá thị trường tự do có thể có nhúc nhích tăng.

Tuy nhiên, các thông tin vĩ mô cho thấy cán cân cung cầu ngoại tệ vẫn khá tích cực đảm bảo khả năng ổn định tỷ giá trong hiện tại và lâu dài. Số liệu do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 59,34 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước và kim ngạch nhập khẩu ước đạt 54,62 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa 2 tháng đầu năm 2024 ước tính xuất siêu 4,72 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,5 tỷ USD). Về đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 2 tháng năm 2024 ước đạt 2,8 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Michael Kokalari, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital cho biết, doanh thu ngành PC (máy tính cá nhân) toàn cầu đã giảm 30% so với cùng kỳ vào đầu năm 2023, nhưng đã tăng trưởng trở lại từ khoảng cuối năm 2023, một phần do người dùng nâng cấp máy cấu hình cao hơn để xử lý AI (trí tuệ nhân tạo).

Doanh thu điện thoại thông minh toàn cầu cũng tăng trưởng trở lại vào cuối năm 2023 lần đầu tiên trong 2 năm, dù sự hồi phục không rõ rệt như ở mảng máy tính vì các sản phẩm mới thiếu các chức năng đủ hấp dẫn để thúc đẩy người dùng nâng cấp. Trong khi đó, máy tính và linh kiện điện tử là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng đưa ra cảnh báo cho biết, sự phục hồi kinh tế cũng có thể là yếu tố gây áp lực lên tỷ giá. Lý do là, các doanh nghiệp sau khi tiêu thụ bớt lượng hàng tồn kho đã có từ trước có thể phát sinh nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu mới phục vụ sản xuất làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính thuộc Học viện Tài chính cho biết, yếu tố như trên đúng là có thể có khi kinh tế phục hồi, nhưng áp lực lên tỷ giá từ việc đó cũng sẽ không quá lớn. Trong bối cảnh đó, trạng thái xuất siêu có thể không lớn như giai đoạn năm 2023, nhưng có thể cán cân thương mại vẫn duy trì khả năng xuất siêu, nhưng ở mức độ ít hơn.

Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

TS. NGUYỄN ĐỨC ĐỘ - PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIỆN KINH TẾ - TÀI CHÍNH, HỌC VIỆN TÀI CHÍNH:

Một số yếu tố tác động chỉ ở mức độ nhẹ và tạm thời

Tôi cho rằng, tỷ giá một số thời điểm có phần bị tác động do một số lý do như đồng USD có tăng giá phần nào trên thị trường quốc tế, trong khi tại thị trường trong nước cũng có yếu tố tác động lên tỷ giá, nhất là tỷ giá thị trường tự do do một số nhà đầu tư gom mua USD để đầu cơ vàng.

Tuy nhiên, các yếu tố trên nếu có tác động thì chỉ là tác động nhẹ và chỉ mang tính thời điểm, không thể tạo được sự ảnh hưởng đáng kể về mặt trung và dài hạn lên tỷ giá.

Trong khi đó, các yếu tố nền tảng vẫn cho thấy tỷ giá sẽ vẫn giữ được sự ổn định. Ở yếu tố quốc tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ thực hiện các đợt giảm lãi suất trong năm 2024 và điều đó có thể làm cho đồng USD giảm giá trên thị trường quốc tế. Trong khi đó với yếu tố trong nước, cán cân thương mại vẫn tiếp tục trong trạng thái xuất siêu trong thời gian dài trong các năm trước và tiếp tục giữ trạng thái xuất siêu cho đến hiện tại.

Việc kinh tế phục hồi có thể tăng nhu cầu nhập khẩu và từ đó nhu cầu về ngoại tệ có thể tăng lên, nhưng theo tôi việc đó có thể sẽ chỉ làm cho quy mô xuất siêu giảm hơn so với hiện nay, nhưng cán cân thương mại vẫn có thể vẫn giữ được trạng thái xuất siêu chứ sẽ khó khả năng đảo ngược sang trạng thái nhập siêu.

ÔNG MICHAEL KOKALARI - GIÁM ĐỐC PHÒNG PHÂN TÍCH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG, VINACAPITAL:

Tỷ giá nhích tăng, nhưng chưa đáng lo ngại

Các đơn hàng xuất khẩu của Việt Nam đang tăng trở lại

Năm 2023, xuất khẩu Việt Nam ghi nhận tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gây ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng GDP năm 2023 trong bối cảnh giá trị xuất khẩu đạt bình quân 90% GDP trong giai đoạn 2019 - 2022.

Tuy nhiên, xuất khẩu tiếp tục đà tăng từ quý IV/2023 và tiếp tục tăng vào đầu năm 2024, trong đó có sự đóng góp đáng kể nhờ sức tăng của mảng xuất khẩu sản phẩm điện tử công nghệ cao.

Về trạng thái thị trường xuất khẩu của Việt Nam, trước đây các doanh nghiệp Mỹ đã đặt hàng quá nhiều các sản phẩm “Made in Vietnam” trong thời điểm gián đoạn chuỗi cung ứng do Covid-19 và phải cắt giảm đơn đặt hàng cho các sản phẩm này năm ngoái để giảm lượng hàng tồn.

Tuy nhiên, sau đợt giảm hàng tồn kho nhanh nhất trong hơn 10 năm, xu hướng đó sắp kết thúc. Vì vậy, các đơn đặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trở lại và chúng tôi kỳ vọng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong các tháng tới nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ.

Hiện nay, tăng trưởng xuất khẩu cao hơn tăng trưởng sản xuất và điều này khiến hàng tồn kho của các nhà sản xuất giảm. Sự kết hợp của sụt giảm hàng tồn kho và tăng đơn hàng mới đồng nghĩa với hoạt động sản xuất của các nhà máy tại Việt Nam sẽ cần đẩy mạnh để đáp ứng được nhu cầu tăng cao cho các sản phẩm “Made in Vietnam”.

Chí Tín

Đọc thêm

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 23/9, Ngân hàng Nhà nước hạ tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.635 đồng/USD, các ngân hàng giữ tỷ giá ổn định. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng lên 100,54 điểm, thị trường thận trọng chờ tiến triển giữa Mỹ - Iran quanh eo biển Hormuz, cùng diễn biến từ Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 25/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30