Tăng trưởng GDP lập đỉnh 20 năm, 6 địa phương bứt phá hai con số nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, 6 tháng đầu năm 2025, nền kinh tế đạt nhiều kết quả tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước, với GDP ước tăng 7,5%, mức cao nhất trong gần 20 năm. Đáng chú ý, theo đơn vị hành chính mới, đã có 6 địa phương ghi nhận mức tăng trưởng hai con số.
aa
GDP quý I tăng 6,93%, cao nhất trong 6 năm Khi tín dụng "căng" tới 134% GDP, cần làm mới chiến lược thu hút vốn Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Chiều ngày 3/7 tại Hà Nội, Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ dưới sự chủ trì của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ.

Nhiều kết quả khả quan, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 7,5%

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Trần Văn Sơn cho biết, phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2025 vừa diễn ra chiều 3/7, đây là hội nghị Chính phủ đầu tiên sau khi cả nước hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền 2 cấp.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột leo thang ở nhiều khu vực; tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại; giá dầu thô và vàng biến động mạnh; chuỗi cung ứng bị đứt gãy cục bộ; biến đổi khí hậu diễn ra bất thường, gây ra nhiều tác động tiêu cực.

Trong nước, dưới sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và địa phương, nhiều nhiệm vụ trọng tâm đã được triển khai hiệu quả. Nổi bật là việc tổ chức lại bộ máy, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu GDP đạt trên 8%.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Điểm danh 6 địa phương tăng trưởng hai con số

Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, các địa phương đầu tàu tăng trưởng đạt kết quả tốt. Tính theo 63 tỉnh, thành phố cũ: 10 địa phương tăng trưởng 2 con số. Còn tính theo 34 tỉnh, thành phố mới: có 6 địa phương tăng trưởng 2 con số gồm: Quảng Ngãi tăng 11,51%, Hải Phòng 11,2%, Quảng Ninh 11,03%, Ninh Bình 10,82%, Bắc Ninh 10,47%, Phú Thọ 10,09%.

Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu đều có xu hướng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước. Tính chung 6 tháng đầu năm đều cao hơn so với cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực.

Đặc biệt, theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước, đưa kết quả 6 tháng đầu năm đạt mức cao nhất trong gần 20 năm qua.

GDP quý II ước đạt 7,67%, đưa mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm lên khoảng 7,31%, tuy nhiên, dự kiến tính đến ngày 30/6, tăng trưởng GDP 6 tháng có thể đạt mức 7,5%, cao hơn khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm so với báo cáo.

Cùng với đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. CPI bình quân 6 tháng tăng 3,27%. Xuất nhập khẩu tháng 6 đạt gần 76,15 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đạt trên 432 tỷ USD, tăng 16,1%, xuất siêu 7,63 tỷ USD.

Đáng chú ý, thu ngân sách nhà nước 6 tháng trên 1,33 triệu tỷ đồng, đạt 67,7% dự toán năm, tăng 28,3% so với cùng kỳ. Nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia và bội chi ngân sách nhà nước thấp hơn nhiều giới hạn quy định.

Hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, nhất là hạ tầng giao thông. Đưa vào khai thác thêm 6 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác lên 2.268 km. Ngày 19/4/2025, đã đồng loạt khởi công, khánh thành 80 công trình lớn trên cả nước.

Sản xuất kinh doanh khởi sắc, trong tháng 6 có 24,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cao nhất từ trước đến nay; hộ kinh doanh thành lập mới đạt trên 124,3 nghìn hộ, tăng 118,4%.

Dư nợ tín dụng đạt gần 17 triệu đồng

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành cũng cung cấp thông tin, giải đáp, làm rõ nhiều vấn đề được dư luận xã hội và báo chí quan tâm: việc cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân sau 3 ngày vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; đề nghị Bộ Công an cung cấp thông tin về sai phạm, trách nhiệm về vụ việc buôn bán sữa giả Hiup, việc sử dụng dầu ăn chăn nuôi thành dầu ăn cho người, sử dụng trong các bếp ăn tập thể và hướng xử lý với các cá nhân nổi tiếng có liên đới.

Phóng viên cũng đặt câu hỏi về việc triển khai Nghị định 117 trong quản lý thuế thương mại điện tử, trong đó có nội dung chuyển trách nhiệm kê khai và nộp thuế từ hàng triệu cá nhân sang các sàn thương mại điện tử; đề nghị Bộ Công thương cung cấp thêm thông tin về quá trình đàm phán thuế đối ứng với Hoa Kỳ.

Về lĩnh vực tài chính - ngân hàng, phóng viên cũng đề nghị đại diện Ngân hàng Nhà nước làm rõ con số 6,52% dư nợ tín dụng, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng, được bơm vào những lĩnh vực cụ thể nào, với tỷ trọng ra sao.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Phản hồi thông tin về điều hành chính sách tiền tệ, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Các ngân hàng thương mại cũng tích cực triển khai chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, giữ ổn định lãi suất huy động tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

Tín dụng bật tăng gần 20% so với cùng kỳ

"Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 ở mức 16%, tuy nhiên sẽ linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến thực tế của thị trường. Cập nhật đến ngày 26/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 16,9 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2024 và tăng 18,87% cùng kỳ năm trước" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nói.

Cũng theo Phó Thống đốc, cơ cấu tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp. Đơn cử, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 12,84% tổng dư nợ; ngành xây dựng chiếm 7,53%, trong đó có nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo chỉ đạo của Chính phủ. Các ngành dịch vụ như bán buôn, bán lẻ có tỷ trọng vay lớn, dao động khoảng 23,4%.

Cùng với đó, nông nghiệp - nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục là hai lĩnh vực được ưu tiên. Đáng chú ý, tín dụng dành cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trưởng gấp đôi tốc độ trung bình toàn nền kinh tế, tương ứng 15,69% và 17,59%.

Nhiều chương trình tín dụng ưu tiên đang được triển khai mạnh mẽ, như hỗ trợ phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long, cho vay nhà ở xã hội và hỗ trợ người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà. Gói tín dụng 500 nghìn tỷ đồng dành cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghệ số cũng đang được tích cực thực hiện.

"Mục tiêu tổng thể là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành linh hoạt, đồng bộ, tuỳ khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và tăng cường tiếp cận vốn tín dụng" - ông Hà khẳng định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 145,200
Hà Nội - PNJ 140,200 145,200
Đà Nẵng - PNJ 140,200 145,200
Miền Tây - PNJ 140,200 145,200
Tây Nguyên - PNJ 140,200 145,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 145,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 14,640
Miếng SJC Nghệ An 14,340 14,640
Miếng SJC Thái Bình 14,340 14,640
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 14,600
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 14,642
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 14,643
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 1,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 1,464
Cập nhật: 22/07/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17943 18217 18793
CAD 18189 18465 19084
CHF 31845 32226 32875
CNY 0 3850 3943
EUR 29431 29651 30735
GBP 34513 34905 35846
HKD 0 3226 3429
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15101 15686
SGD 19866 20148 20718
THB 697 761 814
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26507
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,558 29,582 30,990
JPY 157.49 157.77 167.27
GBP 34,753 34,847 36,049
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,367 18,426 19,105
CHF 32,119 32,219 33,166
SGD 19,983 20,045 20,836
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.45 17.16 18.66
THB 746.45 755.67 808.97
NZD 15,085 15,225 15,677
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,682 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.91 - 6,791.83
TWD 735.79 - 891.27
SAR - 6,890.37 7,257.18
KWD - 83,228 88,546
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18138 18238 19161
CAD 18377 18477 19489
CHF 32100 32130 33708
CNY 3830.8 3855.8 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29621 29651 31374
GBP 34844 34894 36649
HKD 0 3355 0
JPY 158.31 158.81 169.33
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15226 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20025 20155 20883
THB 0 727.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,510
USD20 26,146 26,196 26,510
USD1 26,146 26,196 26,510
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,406 29,506 31,164
CAD 18,308 18,408 19,714
SGD 20,095 20,245 20,810
JPY 158.75 160.25 165.78
GBP 34,745 34,895 35,957
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80