Tăng trưởng GDP lập đỉnh 20 năm, 6 địa phương bứt phá hai con số nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, 6 tháng đầu năm 2025, nền kinh tế đạt nhiều kết quả tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước, với GDP ước tăng 7,5%, mức cao nhất trong gần 20 năm. Đáng chú ý, theo đơn vị hành chính mới, đã có 6 địa phương ghi nhận mức tăng trưởng hai con số.
aa
GDP quý I tăng 6,93%, cao nhất trong 6 năm Khi tín dụng "căng" tới 134% GDP, cần làm mới chiến lược thu hút vốn Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Chiều ngày 3/7 tại Hà Nội, Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ dưới sự chủ trì của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ.

Nhiều kết quả khả quan, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 7,5%

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Trần Văn Sơn cho biết, phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2025 vừa diễn ra chiều 3/7, đây là hội nghị Chính phủ đầu tiên sau khi cả nước hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền 2 cấp.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột leo thang ở nhiều khu vực; tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại; giá dầu thô và vàng biến động mạnh; chuỗi cung ứng bị đứt gãy cục bộ; biến đổi khí hậu diễn ra bất thường, gây ra nhiều tác động tiêu cực.

Trong nước, dưới sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và địa phương, nhiều nhiệm vụ trọng tâm đã được triển khai hiệu quả. Nổi bật là việc tổ chức lại bộ máy, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu GDP đạt trên 8%.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Điểm danh 6 địa phương tăng trưởng hai con số

Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, các địa phương đầu tàu tăng trưởng đạt kết quả tốt. Tính theo 63 tỉnh, thành phố cũ: 10 địa phương tăng trưởng 2 con số. Còn tính theo 34 tỉnh, thành phố mới: có 6 địa phương tăng trưởng 2 con số gồm: Quảng Ngãi tăng 11,51%, Hải Phòng 11,2%, Quảng Ninh 11,03%, Ninh Bình 10,82%, Bắc Ninh 10,47%, Phú Thọ 10,09%.

Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu đều có xu hướng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước. Tính chung 6 tháng đầu năm đều cao hơn so với cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực.

Đặc biệt, theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước, đưa kết quả 6 tháng đầu năm đạt mức cao nhất trong gần 20 năm qua.

GDP quý II ước đạt 7,67%, đưa mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm lên khoảng 7,31%, tuy nhiên, dự kiến tính đến ngày 30/6, tăng trưởng GDP 6 tháng có thể đạt mức 7,5%, cao hơn khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm so với báo cáo.

Cùng với đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. CPI bình quân 6 tháng tăng 3,27%. Xuất nhập khẩu tháng 6 đạt gần 76,15 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đạt trên 432 tỷ USD, tăng 16,1%, xuất siêu 7,63 tỷ USD.

Đáng chú ý, thu ngân sách nhà nước 6 tháng trên 1,33 triệu tỷ đồng, đạt 67,7% dự toán năm, tăng 28,3% so với cùng kỳ. Nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia và bội chi ngân sách nhà nước thấp hơn nhiều giới hạn quy định.

Hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, nhất là hạ tầng giao thông. Đưa vào khai thác thêm 6 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác lên 2.268 km. Ngày 19/4/2025, đã đồng loạt khởi công, khánh thành 80 công trình lớn trên cả nước.

Sản xuất kinh doanh khởi sắc, trong tháng 6 có 24,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cao nhất từ trước đến nay; hộ kinh doanh thành lập mới đạt trên 124,3 nghìn hộ, tăng 118,4%.

Dư nợ tín dụng đạt gần 17 triệu đồng

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành cũng cung cấp thông tin, giải đáp, làm rõ nhiều vấn đề được dư luận xã hội và báo chí quan tâm: việc cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân sau 3 ngày vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; đề nghị Bộ Công an cung cấp thông tin về sai phạm, trách nhiệm về vụ việc buôn bán sữa giả Hiup, việc sử dụng dầu ăn chăn nuôi thành dầu ăn cho người, sử dụng trong các bếp ăn tập thể và hướng xử lý với các cá nhân nổi tiếng có liên đới.

Phóng viên cũng đặt câu hỏi về việc triển khai Nghị định 117 trong quản lý thuế thương mại điện tử, trong đó có nội dung chuyển trách nhiệm kê khai và nộp thuế từ hàng triệu cá nhân sang các sàn thương mại điện tử; đề nghị Bộ Công thương cung cấp thêm thông tin về quá trình đàm phán thuế đối ứng với Hoa Kỳ.

Về lĩnh vực tài chính - ngân hàng, phóng viên cũng đề nghị đại diện Ngân hàng Nhà nước làm rõ con số 6,52% dư nợ tín dụng, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng, được bơm vào những lĩnh vực cụ thể nào, với tỷ trọng ra sao.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Phản hồi thông tin về điều hành chính sách tiền tệ, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Các ngân hàng thương mại cũng tích cực triển khai chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, giữ ổn định lãi suất huy động tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

Tín dụng bật tăng gần 20% so với cùng kỳ

"Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 ở mức 16%, tuy nhiên sẽ linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến thực tế của thị trường. Cập nhật đến ngày 26/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 16,9 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2024 và tăng 18,87% cùng kỳ năm trước" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nói.

Cũng theo Phó Thống đốc, cơ cấu tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp. Đơn cử, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 12,84% tổng dư nợ; ngành xây dựng chiếm 7,53%, trong đó có nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo chỉ đạo của Chính phủ. Các ngành dịch vụ như bán buôn, bán lẻ có tỷ trọng vay lớn, dao động khoảng 23,4%.

Cùng với đó, nông nghiệp - nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục là hai lĩnh vực được ưu tiên. Đáng chú ý, tín dụng dành cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trưởng gấp đôi tốc độ trung bình toàn nền kinh tế, tương ứng 15,69% và 17,59%.

Nhiều chương trình tín dụng ưu tiên đang được triển khai mạnh mẽ, như hỗ trợ phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long, cho vay nhà ở xã hội và hỗ trợ người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà. Gói tín dụng 500 nghìn tỷ đồng dành cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghệ số cũng đang được tích cực thực hiện.

"Mục tiêu tổng thể là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành linh hoạt, đồng bộ, tuỳ khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và tăng cường tiếp cận vốn tín dụng" - ông Hà khẳng định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

(TBTCO) - Năm 2026, Vietnam Airlines đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Dù dự kiến lãi khoảng 2.000 tỷ đồng nửa đầu năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm khoảng 510 tỷ đồng do áp lực từ giá nhiên liệu bay. Hãng tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn, tăng vốn để trả nợ, đầu tư dài hạn và chủ động ứng phó biến động thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,250 ▼50K 13,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,200 ▼50K 13,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 ▼50K 14,200 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 ▼50K 14,180 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼100K 14,590 ▼100K
Trang sức 99.99 13,900 ▼100K 14,600 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1310K 14,802 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1310K 14,803 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼5K 1,479 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼5K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▼5K 1,464 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼124651K 14,495 ▼130951K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▼375K 109,961 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▼340K 99,712 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▼305K 89,463 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼68700K 8,551 ▼77250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▼208K 61,205 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cập nhật: 29/06/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18455
CAD 17989 18264 18881
CHF 31868 32249 32897
CNY 0 3828 3921
EUR 29347 29567 30648
GBP 33956 34346 35284
HKD 0 3221 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15138
SGD 19779 20061 20642
THB 705 769 822
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26461
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,121 26,121 26,461
USD(1-2-5) 25,077 - -
USD(10-20) 25,077 - -
EUR 29,614 29,638 31,000
JPY 158.78 159.07 168.4
GBP 34,293 34,386 35,514
AUD 17,890 17,955 18,609
CAD 18,275 18,334 18,975
CHF 32,249 32,349 33,241
SGD 20,003 20,065 20,820
CNY - 3,814 3,954
HKD 3,300 3,310 3,442
KRW 15.79 16.47 17.89
THB 756.99 766.34 819.12
NZD 14,612 14,748 15,159
SEK - 2,673 2,763
DKK - 3,962 4,095
NOK - 2,618 2,706
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,070.98 - 6,843.95
TWD 748.51 - 905.28
SAR - 6,913.42 7,269.75
KWD - 83,470 88,665
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,101 26,121 26,461
EUR 29,401 29,519 30,699
GBP 34,102 34,239 35,249
HKD 3,286 3,299 3,415
CHF 31,936 32,064 32,976
JPY 158.57 159.21 166.99
AUD 17,767 17,838 18,423
SGD 19,977 20,057 20,635
THB 768 771 806
CAD 18,206 18,279 18,840
NZD 14,581 15,109
KRW 16.38 18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26097 26097 26461
AUD 17779 17879 18801
CAD 18170 18270 19284
CHF 32091 32121 33703
CNY 3808.5 3833.5 3968.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29518 29548 31270
GBP 34236 34286 36038
HKD 0 3355 0
JPY 158.84 159.34 169.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14648 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19933 20063 20789
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,461
USD20 26,135 26,185 26,461
USD1 26,135 26,185 26,461
AUD 17,824 17,924 19,037
EUR 29,656 29,656 31,380
CAD 18,136 18,236 19,545
SGD 20,022 20,172 20,732
JPY 159.57 161.07 165.63
GBP 34,125 34,475 35,598
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/06/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80