Tăng trưởng GDP lập đỉnh 20 năm, 6 địa phương bứt phá hai con số nửa đầu năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, 6 tháng đầu năm 2025, nền kinh tế đạt nhiều kết quả tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước, với GDP ước tăng 7,5%, mức cao nhất trong gần 20 năm. Đáng chú ý, theo đơn vị hành chính mới, đã có 6 địa phương ghi nhận mức tăng trưởng hai con số.
aa
GDP quý I tăng 6,93%, cao nhất trong 6 năm Khi tín dụng "căng" tới 134% GDP, cần làm mới chiến lược thu hút vốn Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Chiều ngày 3/7 tại Hà Nội, Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ dưới sự chủ trì của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ.

Nhiều kết quả khả quan, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 7,5%

Phát biểu tại buổi họp báo, ông Trần Văn Sơn cho biết, phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2025 vừa diễn ra chiều 3/7, đây là hội nghị Chính phủ đầu tiên sau khi cả nước hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền 2 cấp.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột leo thang ở nhiều khu vực; tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu chậm lại; giá dầu thô và vàng biến động mạnh; chuỗi cung ứng bị đứt gãy cục bộ; biến đổi khí hậu diễn ra bất thường, gây ra nhiều tác động tiêu cực.

Trong nước, dưới sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và địa phương, nhiều nhiệm vụ trọng tâm đã được triển khai hiệu quả. Nổi bật là việc tổ chức lại bộ máy, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu GDP đạt trên 8%.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi họp báo Chính phủ thường kỳ. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Điểm danh 6 địa phương tăng trưởng hai con số

Theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, các địa phương đầu tàu tăng trưởng đạt kết quả tốt. Tính theo 63 tỉnh, thành phố cũ: 10 địa phương tăng trưởng 2 con số. Còn tính theo 34 tỉnh, thành phố mới: có 6 địa phương tăng trưởng 2 con số gồm: Quảng Ngãi tăng 11,51%, Hải Phòng 11,2%, Quảng Ninh 11,03%, Ninh Bình 10,82%, Bắc Ninh 10,47%, Phú Thọ 10,09%.

Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu đều có xu hướng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau vượt quý trước. Tính chung 6 tháng đầu năm đều cao hơn so với cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực.

Đặc biệt, theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước, đưa kết quả 6 tháng đầu năm đạt mức cao nhất trong gần 20 năm qua.

GDP quý II ước đạt 7,67%, đưa mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm lên khoảng 7,31%, tuy nhiên, dự kiến tính đến ngày 30/6, tăng trưởng GDP 6 tháng có thể đạt mức 7,5%, cao hơn khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm so với báo cáo.

Cùng với đó, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. CPI bình quân 6 tháng tăng 3,27%. Xuất nhập khẩu tháng 6 đạt gần 76,15 tỷ USD, tăng 18,1% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đạt trên 432 tỷ USD, tăng 16,1%, xuất siêu 7,63 tỷ USD.

Đáng chú ý, thu ngân sách nhà nước 6 tháng trên 1,33 triệu tỷ đồng, đạt 67,7% dự toán năm, tăng 28,3% so với cùng kỳ. Nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia và bội chi ngân sách nhà nước thấp hơn nhiều giới hạn quy định.

Hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, nhất là hạ tầng giao thông. Đưa vào khai thác thêm 6 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông, nâng tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác lên 2.268 km. Ngày 19/4/2025, đã đồng loạt khởi công, khánh thành 80 công trình lớn trên cả nước.

Sản xuất kinh doanh khởi sắc, trong tháng 6 có 24,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cao nhất từ trước đến nay; hộ kinh doanh thành lập mới đạt trên 124,3 nghìn hộ, tăng 118,4%.

Dư nợ tín dụng đạt gần 17 triệu đồng

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành cũng cung cấp thông tin, giải đáp, làm rõ nhiều vấn đề được dư luận xã hội và báo chí quan tâm: việc cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân sau 3 ngày vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; đề nghị Bộ Công an cung cấp thông tin về sai phạm, trách nhiệm về vụ việc buôn bán sữa giả Hiup, việc sử dụng dầu ăn chăn nuôi thành dầu ăn cho người, sử dụng trong các bếp ăn tập thể và hướng xử lý với các cá nhân nổi tiếng có liên đới.

Phóng viên cũng đặt câu hỏi về việc triển khai Nghị định 117 trong quản lý thuế thương mại điện tử, trong đó có nội dung chuyển trách nhiệm kê khai và nộp thuế từ hàng triệu cá nhân sang các sàn thương mại điện tử; đề nghị Bộ Công thương cung cấp thêm thông tin về quá trình đàm phán thuế đối ứng với Hoa Kỳ.

Về lĩnh vực tài chính - ngân hàng, phóng viên cũng đề nghị đại diện Ngân hàng Nhà nước làm rõ con số 6,52% dư nợ tín dụng, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng, được bơm vào những lĩnh vực cụ thể nào, với tỷ trọng ra sao.

Tăng trưởng kinh tế cao nhất trong gần 20 năm, 6 địa phương tăng trưởng hai con số
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm. Ảnh: Mạnh Tuấn.

Phản hồi thông tin về điều hành chính sách tiền tệ, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Các ngân hàng thương mại cũng tích cực triển khai chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, giữ ổn định lãi suất huy động tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

Tín dụng bật tăng gần 20% so với cùng kỳ

"Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 ở mức 16%, tuy nhiên sẽ linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến thực tế của thị trường. Cập nhật đến ngày 26/6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 16,9 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2024 và tăng 18,87% cùng kỳ năm trước" - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nói.

Cũng theo Phó Thống đốc, cơ cấu tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp. Đơn cử, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 12,84% tổng dư nợ; ngành xây dựng chiếm 7,53%, trong đó có nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo chỉ đạo của Chính phủ. Các ngành dịch vụ như bán buôn, bán lẻ có tỷ trọng vay lớn, dao động khoảng 23,4%.

Cùng với đó, nông nghiệp - nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục là hai lĩnh vực được ưu tiên. Đáng chú ý, tín dụng dành cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trưởng gấp đôi tốc độ trung bình toàn nền kinh tế, tương ứng 15,69% và 17,59%.

Nhiều chương trình tín dụng ưu tiên đang được triển khai mạnh mẽ, như hỗ trợ phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long, cho vay nhà ở xã hội và hỗ trợ người trẻ dưới 35 tuổi vay mua nhà. Gói tín dụng 500 nghìn tỷ đồng dành cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghệ số cũng đang được tích cực thực hiện.

"Mục tiêu tổng thể là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành linh hoạt, đồng bộ, tuỳ khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và tăng cường tiếp cận vốn tín dụng" - ông Hà khẳng định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,900 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,950 ▼150K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18351 18626 19207
CAD 18644 18922 19537
CHF 32898 33283 33927
CNY 0 3834 3926
EUR 30045 30319 31345
GBP 34400 34791 35721
HKD 0 3235 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15147 15732
SGD 20073 20355 20876
THB 724 788 841
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,260 30,284 31,569
JPY 162.13 162.42 171.36
GBP 34,703 34,797 35,819
AUD 18,680 18,747 19,356
CAD 18,871 18,932 19,528
CHF 33,234 33,337 34,148
SGD 20,252 20,315 21,007
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,436
KRW 16.24 16.94 18.34
THB 775.7 785.28 836.28
NZD 15,218 15,359 15,736
SEK - 2,760 2,843
DKK - 4,049 4,171
NOK - 2,796 2,886
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,260.74 - 7,041.42
TWD 755.27 - 910.37
SAR - 6,919.11 7,251.08
KWD - 83,912 88,833
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26387
AUD 18521 18621 19546
CAD 18819 18919 19935
CHF 33128 33158 34740
CNY 3814.8 3839.8 3975.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30220 30250 31973
GBP 34677 34727 36480
HKD 0 3355 0
JPY 162.62 163.12 173.63
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20224 20354 21075
THB 0 753.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16000000 16000000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,186 26,235 26,387
USD20 26,186 26,235 26,387
USD1 26,186 26,235 26,387
AUD 18,591 18,691 19,796
EUR 30,382 30,382 31,791
CAD 18,773 18,873 20,181
SGD 20,323 20,473 21,280
JPY 163.29 164.79 169.36
GBP 34,581 34,931 36,100
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80