Tỷ giá tạm hạ nhiệt nhưng còn nhiều ẩn số phía trước

Chí Tín
(TBTCO) - Tỷ giá những ngày gần đây có phần hạ nhiệt nhờ thông tin hỗ trợ từ diễn biến xuất siêu trở lại trong tháng 6. Tuy nhiên, ẩn số vẫn còn phía trước với nhiều biến số phức tạp chi phối.
aa
Tỷ giá tạm hạ nhiệt nhưng còn nhiều ẩn số phía trước
Tỷ giá trung tâm thời điểm cuối tháng 6/2024 ở mức khoảng 24.264 đồng/USD. Ảnh tư liệu

Tỷ giá hạ nhiệt

Từ cuối tháng 6 đến nay, diễn biến tỷ giá cho thấy xu hướng dịu đi khá rõ. Tỷ giá trung tâm thời điểm cuối tháng 6/2024 được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở mức khoảng 24.264 đồng/USD. Nhưng đến ngày 9/7, tỷ giá trung tâm đã giảm về mức chỉ còn 24.242 đồng/USD, tương ứng với mức giảm khoảng 20 đồng/USD trong giai đoạn này.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hồi cuối tháng 6 ghi nhận ở mức khoảng 25.477 đồng/USD và đến sáng ngày 9/7, đã giảm về mức chỉ còn 25.454 đồng/USD, tương ứng mức giảm khoảng 23 đồng mỗi Đô la.

Diễn biến tỷ giá theo đó đã có phần giải tỏa sau giai đoạn nóng diễn ra trong nửa đầu năm 2024, đặc biệt cao điểm diễn ra vào khoảng tháng 4/2024. Cụ thể, tỷ giá đã có 2 nhịp tăng nóng trong giai đoạn này. Giai đoạn đầu diễn ra ngay đầu năm với chu kỳ tăng từ đầu năm cho đến cuối tháng 1/2024, nhưng giai đoạn này tỷ giá cũng chưa vượt đỉnh so với thời kỳ quý III/2023.

Tuy nhiên, sức nóng của tỷ giá trở thành tâm điểm của giới tài chính được ghi nhận vào giai đoạn tháng 4/2024, khi đó tỷ giá bước vào nhịp điều chỉnh tăng vọt và thiết lập các kỷ lục mới. Tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại trong giai đoạn này tiến sát ngưỡng 25.500 đồng/USD. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nhiều giải pháp can thiệp để bình ổn tỷ giá, trong đó có thực hiện các hoạt động nghiệp vụ thị trường mở kéo dài liên tục trong vòng hơn 3 tháng qua. Ngoài ra, cơ quan quản lý thị trường tiền tệ cũng đã thực hiện giải pháp bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại để đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế.

Tại thời điểm đó, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, cơ quan này đã thực hiện điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, hấp thụ các cú sốc bên ngoài. Đồng thời, để hỗ trợ ổn định thị trường ngoại tệ, làm dịu sức ép lên tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước cũng đã phát hành tín phiếu với kỳ hạn và khối lượng phù hợp nhằm điều tiết lượng tiền Việt Nam dư thừa, hạn chế các yếu tố gia tăng áp lực lên tỷ giá.

Sau nhịp tăng nóng với đỉnh điểm diễn ra trong tháng 4, trong 2 tháng tiếp theo (tháng 5 và 6), diễn biến tỷ giá đã có phần bớt nóng, nhưng vẫn neo ở mặt bằng cao trước khi đi vào giai đoạn điều chỉnh giảm từ khoảng cuối tháng 6 đến nay.

Các yếu tố đan xen chi phối

Bối cảnh tỷ giá thời điểm hiện tại đang xuất hiện một số yếu tố thuận lợi, từ đó có thể làm dịu bớt tình hình tỷ giá. Trong đó, điểm đáng chú ý nhất là bức tranh xuất nhập khẩu đã lấy lại trạng thái xuất siêu trong tháng 6 sau khi nhập siêu trong tháng 5.

Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 6/2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 63,24 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 368,53 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 14,5%; nhập khẩu tăng 17%.

Cán cân thương mại hàng hóa tháng 6 xuất siêu 2,94 tỷ USD, diễn biến này đã đảo chiều so với bức tranh cán cân thương mại hàng hóa tháng 5/2024 nhập siêu 1 tỷ USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 11,63 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 13,44 tỷ USD).

Trong khi đó tại thị trường quốc tế, đồng Đô la Mỹ đã có xu hướng giảm thời gian gần đây cũng là yếu tố thuận lợi đối với diễn biến tỷ giá của đồng Việt Nam trong mối tương quan với đồng ngoại tệ này. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ từ thời kỳ cuối tháng 6 đến nay đã giảm từ mức trên 106 điểm xuống có lúc dưới ngưỡng 105 điểm.

Mặc dù một số yếu tố thuận lợi đã xuất hiện như trên, nhưng các yếu tố bất lợi vẫn còn tồn tại. Chẳng hạn như nền kinh tế tuy xuất siêu về hàng hóa, nhưng vẫn nhập siêu về dịch vụ. Tổng cục Thống kê cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 11,25 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2023; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 16,11 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Nhập siêu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2024 là 4,86 tỷ USD.

Trong khi đó, một trong những yếu tố nữa khiến giới kinh doanh lo ngại có thể ảnh hưởng tỷ giá là động thái bán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài. Giá trị bán ròng của khối ngoại trên sàn HOSE từ đầu năm đến đầu tháng 7/2024 đã đạt mốc khoảng xấp xỉ 55.000 tỷ đồng, gấp hơn 2,2 lần so với mức bán ròng cả năm 2023. Theo đó, các nhà đầu tư sau khi bán cổ phiếu nếu thực hiện đổi sang đồng Đô la để chuyển lợi nhuận về nước có thể sẽ làm tăng nhu cầu đối với đồng Đô la.

Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, áp lực tỷ giá nếu xuất hiện thì cao điểm thường sẽ chỉ kéo dài đến quý III và thường được giải tỏa vào cuối năm nhờ sự hỗ trợ của dòng tiền kiều hối. TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh cho biết, trong tình hình kinh tế có tính chu kỳ, cung cầu ngoại tệ cũng diễn biến theo tính chu kỳ đó. Nhìn vào bối cảnh chung đó, tỷ giá thường sẽ được hỗ trợ bởi lượng kiều hối có thể sẽ tăng trong giai đoạn trước Tết Nguyên đán hàng năm.

Đồng USD biến động theo dữ liệu kinh tế của Mỹ

Đồng USD đã giảm giá xuống mức thấp nhất trong vòng 1 tháng sau khi số liệu chỉ số giá hàng hóa dịch vụ tiêu dùng tháng 5 cho thấy, lạm phát ở Mỹ tiếp tục dịu đi, tạo tiền đề để Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) khởi động việc nới lỏng chính sách tiền tệ trong thời gian từ nay tới cuối năm. Thêm vào đó, thị trường tài chính quốc tế cũng đang kỳ vọng FED sẽ hạ lãi suất càng gia tăng sau báo cáo việc làm thấp.

Chí Tín

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

(TBTCO) - Dù lợi nhuận ngân hàng tiếp tục vượt kỳ vọng, SSI Research vẫn giữ quan điểm thận trọng khi chất lượng tài sản suy giảm rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97%, cao nhất trong quý II kể từ năm 2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17914 18188 18764
CAD 18186 18462 19080
CHF 31643 32023 32676
CNY 0 3840 3940
EUR 29551 29772 30856
GBP 34438 34829 35770
HKD 0 3201 3403
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15069 15655
SGD 19887 20169 20741
THB 707 770 824
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25955 26325
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,930 25,940 26,320
EUR 29,624 29,743 30,936
GBP 34,614 34,753 35,785
HKD 3,263 3,276 3,392
CHF 31,753 31,881 32,809
JPY 161.12 161.77 169.63
AUD 18,104 18,177 18,774
SGD 20,070 20,151 20,747
THB 771 774 811
CAD 18,383 18,457 19,044
NZD 15,120 15,666
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19117
CAD 18360 18460 19474
CHF 31889 31919 33501
CNY 3812.1 3837.1 3972.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29727 29757 31482
GBP 34722 34772 36540
HKD 0 3355 0
JPY 161.65 162.15 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20032 20162 20893
THB 0 735.7 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,960 26,010 26,340
USD20 25,910 26,010 26,715
USD1 25,860 26,010 26,765
AUD 18,150 18,250 19,359
EUR 29,535 29,635 31,296
CAD 18,320 18,420 19,729
SGD 20,124 20,274 20,829
JPY 162.09 163.59 169.16
GBP 34,636 34,786 35,854
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80