Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện giải pháp bán ngoại tệ để can thiệp tỷ giá. Tuy nhiên, đây có thể chỉ là giải pháp có tính “cầm chừng” để tỷ giá VND/USD không tăng quá nhanh, chứ có thể khó hạ nhiệt hoàn toàn. Đặc biệt, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và một số ngân hàng trung ương thế giới có thể hạ lãi suất trước Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) khiến cho đồng USD vẫn có xu hướng tăng trên thị trường quốc tế.
aa
Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp
Nguồn: NHNN Đồ họa: Phương Anh

Bán USD cho các ngân hàng đang âm ngoại tệ

Diễn biến tỷ giá trở thành một trong những “tâm điểm” của thị trường tài chính trong nước giai đoạn từ đầu năm đến nay. Đà tăng của tỷ giá xuất hiện từ đầu năm 2024, chậm lại trong giai đoạn Tết Âm lịch, nhưng quay trở lại sau đó. Sang tháng 4/2024, tỷ giá tiếp tục nóng lên ngay cả khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có động thái can thiệp mở mức độ nhẹ thông qua hoạt động bán tín phiếu trên trường mở từ giữa tháng 3/2024.

Điều hành hài hòa, hợp lý giữa lãi suất và tỷ giá

Tại Nghị quyết số 44/NQ-CP phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 3/2024 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước điều hành hài hòa, hợp lý giữa lãi suất và tỷ giá phù hợp với tình hình thị trường, diễn biến kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cho biết thời gian qua, tỷ giá liên tục tăng nóng, thậm chí tăng kịch trần trong nhiều phiên gần đây. Trước tình hình đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thụ các cú sốc, kết hợp với phát hành tín phiếu nhằm giảm bớt dư thừa thanh khoản của đồng Việt Nam, qua đó giảm bớt áp lực trong ngắn hạn đối với tỷ giá. Về cơ bản, thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ. Tỷ giá diễn biến phù hợp với điều kiện thị trường và xu hướng của các đồng tiền quốc tế so với đồng USD.

Tuy nhiên, nhiều áp lực đối với tỷ giá vẫn còn tồn tại trong thời điểm hiện tại. Ông Đặng Trần Phục - Chủ tịch AzFin Việt Nam cho biết, mặt dù nền kinh tế xuất siêu liên tục thời gian qua, nhưng vẫn có các yếu khác tạo áp lực với tỷ giá. Chẳng hạn như, xuất siêu thời gian qua chủ yếu đến các doanh nghiệp FDI, nhưng các doanh nghiệp này sau giai đoạn kinh doanh có lợi nhuận thì họ cũng có nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước. Ngoài ra, một số chuyên gia cũng cho rằng, các nhà đầu tư chứng khoán ngoại sau giai đoạn bán ròng kéo dài suốt năm 2023 và đầu năm 2024 cũng có nhu cầu chuyển tiền VND thành USD để nắm giữ hoặc chuyển về nước.

Đến cuối tháng 4/2024, tỷ giá đã tăng khoảng gần 5% so với cuối năm 2023.Trước bối cảnh hiện tại của tỷ giá, NHNN đã thực thi giải pháp có tính mạnh tay hơn so với bán tín phiếu bằng cách bán USD từ nguồn dự trữ ngoại hối. Cụ thể, NHNN đã công khai bán can thiệp ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm để chuyển trạng thái ngoại tệ về 0. Đại diện NHNN cho biết, đây là biện pháp rất mạnh mẽ của NHNN nhằm giải tỏa tâm lý thị trường, đảm bảo nguồn ngoại tệ thông suốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế.

Giải pháp “cầm chừng” trước nhiều yếu tác động

Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp
Ảnh minh họa

Với hành động bán USD, NHNN đã thực hiện giải pháp mạnh hơn so với giải pháp chỉ mua bán tín phiếu trên thị trường mở. Mặc dù vậy, giải pháp này cũng chỉ được coi là giải pháp có tính chất “cầm chừng” để giải nhiệt phần nào việc tỷ giá có thể tiếp tục nóng lên. Hiện nay, NHNN vẫn còn có trong tay những công cụ khác có tính chất quyết liệt hơn, chẳng hạn như hạ lãi suất điều hành. Tuy nhiên, thực tế sau những “hiệu ứng phụ” đối với nền kinh tế đã từng xảy sau lần can thiệp hạ nhiệt tỷ giá bằng công cụ lãi suất giai đoạn nửa cuối năm 2022, cũng có quan điểm cho rằng việc tăng lãi suất của NHNN thời điểm đó là có phần vội vàng vì chưa thực sự cần thiết. Trong quan điểm gần đây của NHNN đối với lãi suất thời điểm hiện nay, cơ quan này cho biết sẽ điều hành phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Trong khi đó, diễn biến thực tế về lãi suất cho biết, đến ngày 31/3/2024, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 3,02%/năm, giảm 0,5% so với cuối năm 2023 và lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,5%/năm, giảm 0,6%/năm so với cuối năm 2023. Tại thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm có một số thời điểm tăng mạnh chạm trần lãi suất điều hành, nhưng gần đây đã có phần hạ nhiệt. Lãi suất qua đêm hiện chỉ còn ở mức dưới 4%/năm.

Tuy nhiên, việc chỉ dừng ở công cụ bán ngoại tệ có thể cũng sẽ là thách thức trong điều hành chính sách tiền tệ, bởi ngoài các yếu tố trong và ngoài nước đều đang có nhiều diễn biến khá phức tạp. Các công cụ dự báo gần đây cho thấy, lãi suất của Mỹ sẽ còn tiếp tục neo ở mức cao lâu hơn so với các dự báo đưa ra hồi cuối năm 2023 đầu năm 2024. Trong khi đó, thời gian qua một số ngân hàng trung ương trên thế giới đã giảm lãi suất, còn ECB cũng cho biết có thể cũng giảm lãi suất vào giữa năm mà không phụ thuộc vào hành động của FED. Các diễn biến này khiến cho đồng USD đang có xu hướng tăng trên thị trường tiền tệ quốc tế. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng USD đã tăng khoảng 5% kể từ đầu năm đến nay. Đặc biệt, trường hợp ECB hạ lãi suất, nhưng FED chưa hạ thì áp lực tăng giá của đồng USD có thể sẽ còn gia tăng.

Các diễn biến trên đang tiếp tục tạo ra áp lực lớn với tỷ giá VND/USD trong thời gian tới. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm cho rằng, sự lo lắng của thị trường tài chính - trong đó có những phiên giảm điểm sâu của chứng khoán trong nước - đang bị đẩy cao hơn bản chất của nó. Bởi lẽ, việc đồng VND mất giá so với USD diễn ra trong cùng bối cảnh chung khi các đồng tiền khác trên thế giới cũng mất giá so với USD. Hơn nữa, ông Đặng Trần Phục cho biết, tỷ giá tăng không phải mọi thứ đều tiêu cực mà vẫn có yếu tố tích cực, trong đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được hưởng lợi từ đó có tác dụng kích thích xuất khẩu.

Phiên đấu thầu vàng đầu tiên, giá trúng cao nhất là 81,33 triệu đồng/lượng

NHNN Việt Nam vừa công bố kết quả phiên đấu thầu vàng miếng SJC sáng ngày 23/4. Theo đó, có 2 thành viên trúng thầu với tổng khối lượng trúng thầu là 34 lô, tương ứng với 3.400 lượng vàng miếng SJC. Giá trúng thầu cao nhất là 81,33 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 81,32 triệu đồng/lượng.

Trước đó theo thông báo đấu thầu của NHNN, phiên đấu thầu thực hiện theo hình thức cạnh tranh giá, khối lượng vàng miếng của 1 lô giao dịch là 100 lượng, loại vàng là vàng miếng SJC được Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất. Tổng khối lượng dự kiến đấu thầu là 16,8 nghìn lượng, giá tham chiếu để tính giá đặt cọc là 80,7 triệu đồng/lượng.

Các thành viên tham gia đấu thầu phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Thông tư số 06/2013/TT-NHNN ngày 12/3/2013 của Thống đốc NHNN hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và Quyết định 563/QĐ-NHNN của NHNN ngày 18/3/2013 về quy trình mua, bán vàng miếng.

Các thành viên phải đặt cọc 10% tổng giá trị dự thầu. Khối lượng đấu thầu tối thiểu một thành viên được phép đặt thầu là 14 lô (tương đương 1.400 lượng vàng), khối lượng đấu thầu tối đa một thành viên được phép đặt thầu là 20 lô (tương đương 2.000 lượng vàng).

Bước giá dự thầu là 10.000 đồng/lượng, bước khối lượng dự thầu là 1 lô (tương đương 100 lượng vàng). Trong phiên đấu thầu lần này, mỗi thành viên dự thầu chỉ được đăng ký 1 mức giá tối thiểu bằng hoặc cao hơn giá sàn do NHNN công bố.

Như vậy, hoạt động đấu thấu vàng đã chính thức tái khởi động trở lại sau hơn 10 năm. Trước đó hồi năm 2013, NHNN đã tổ chức 74 phiên đấu thầu vàng, qua đó cung ứng ra thị trường 1.785.200 lượng vàng, tương đương hơn 68,6 tấn vàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 28/8, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.610 đồng; chỉ số DXY giảm nhẹ 0,01% xuống 99,13 điểm khi thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole. Trong khi đó, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ gia tăng khi xác suất các ngân hàng trung ương lớn như: ECB tăng lãi suất tháng 9 lên gần 96%, cùng triển vọng BoJ cũng nâng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 06:00
Ngân hàng