Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện giải pháp bán ngoại tệ để can thiệp tỷ giá. Tuy nhiên, đây có thể chỉ là giải pháp có tính “cầm chừng” để tỷ giá VND/USD không tăng quá nhanh, chứ có thể khó hạ nhiệt hoàn toàn. Đặc biệt, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và một số ngân hàng trung ương thế giới có thể hạ lãi suất trước Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) khiến cho đồng USD vẫn có xu hướng tăng trên thị trường quốc tế.
aa
Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp
Nguồn: NHNN Đồ họa: Phương Anh

Bán USD cho các ngân hàng đang âm ngoại tệ

Diễn biến tỷ giá trở thành một trong những “tâm điểm” của thị trường tài chính trong nước giai đoạn từ đầu năm đến nay. Đà tăng của tỷ giá xuất hiện từ đầu năm 2024, chậm lại trong giai đoạn Tết Âm lịch, nhưng quay trở lại sau đó. Sang tháng 4/2024, tỷ giá tiếp tục nóng lên ngay cả khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có động thái can thiệp mở mức độ nhẹ thông qua hoạt động bán tín phiếu trên trường mở từ giữa tháng 3/2024.

Điều hành hài hòa, hợp lý giữa lãi suất và tỷ giá

Tại Nghị quyết số 44/NQ-CP phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 3/2024 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước điều hành hài hòa, hợp lý giữa lãi suất và tỷ giá phù hợp với tình hình thị trường, diễn biến kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cho biết thời gian qua, tỷ giá liên tục tăng nóng, thậm chí tăng kịch trần trong nhiều phiên gần đây. Trước tình hình đó, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, góp phần hấp thụ các cú sốc, kết hợp với phát hành tín phiếu nhằm giảm bớt dư thừa thanh khoản của đồng Việt Nam, qua đó giảm bớt áp lực trong ngắn hạn đối với tỷ giá. Về cơ bản, thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ. Tỷ giá diễn biến phù hợp với điều kiện thị trường và xu hướng của các đồng tiền quốc tế so với đồng USD.

Tuy nhiên, nhiều áp lực đối với tỷ giá vẫn còn tồn tại trong thời điểm hiện tại. Ông Đặng Trần Phục - Chủ tịch AzFin Việt Nam cho biết, mặt dù nền kinh tế xuất siêu liên tục thời gian qua, nhưng vẫn có các yếu khác tạo áp lực với tỷ giá. Chẳng hạn như, xuất siêu thời gian qua chủ yếu đến các doanh nghiệp FDI, nhưng các doanh nghiệp này sau giai đoạn kinh doanh có lợi nhuận thì họ cũng có nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước. Ngoài ra, một số chuyên gia cũng cho rằng, các nhà đầu tư chứng khoán ngoại sau giai đoạn bán ròng kéo dài suốt năm 2023 và đầu năm 2024 cũng có nhu cầu chuyển tiền VND thành USD để nắm giữ hoặc chuyển về nước.

Đến cuối tháng 4/2024, tỷ giá đã tăng khoảng gần 5% so với cuối năm 2023.Trước bối cảnh hiện tại của tỷ giá, NHNN đã thực thi giải pháp có tính mạnh tay hơn so với bán tín phiếu bằng cách bán USD từ nguồn dự trữ ngoại hối. Cụ thể, NHNN đã công khai bán can thiệp ngoại tệ cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm để chuyển trạng thái ngoại tệ về 0. Đại diện NHNN cho biết, đây là biện pháp rất mạnh mẽ của NHNN nhằm giải tỏa tâm lý thị trường, đảm bảo nguồn ngoại tệ thông suốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế.

Giải pháp “cầm chừng” trước nhiều yếu tác động

Bán ngoại tệ, giải pháp “cầm chừng” trước bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn phức tạp
Ảnh minh họa

Với hành động bán USD, NHNN đã thực hiện giải pháp mạnh hơn so với giải pháp chỉ mua bán tín phiếu trên thị trường mở. Mặc dù vậy, giải pháp này cũng chỉ được coi là giải pháp có tính chất “cầm chừng” để giải nhiệt phần nào việc tỷ giá có thể tiếp tục nóng lên. Hiện nay, NHNN vẫn còn có trong tay những công cụ khác có tính chất quyết liệt hơn, chẳng hạn như hạ lãi suất điều hành. Tuy nhiên, thực tế sau những “hiệu ứng phụ” đối với nền kinh tế đã từng xảy sau lần can thiệp hạ nhiệt tỷ giá bằng công cụ lãi suất giai đoạn nửa cuối năm 2022, cũng có quan điểm cho rằng việc tăng lãi suất của NHNN thời điểm đó là có phần vội vàng vì chưa thực sự cần thiết. Trong quan điểm gần đây của NHNN đối với lãi suất thời điểm hiện nay, cơ quan này cho biết sẽ điều hành phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Trong khi đó, diễn biến thực tế về lãi suất cho biết, đến ngày 31/3/2024, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 3,02%/năm, giảm 0,5% so với cuối năm 2023 và lãi suất cho vay bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,5%/năm, giảm 0,6%/năm so với cuối năm 2023. Tại thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm có một số thời điểm tăng mạnh chạm trần lãi suất điều hành, nhưng gần đây đã có phần hạ nhiệt. Lãi suất qua đêm hiện chỉ còn ở mức dưới 4%/năm.

Tuy nhiên, việc chỉ dừng ở công cụ bán ngoại tệ có thể cũng sẽ là thách thức trong điều hành chính sách tiền tệ, bởi ngoài các yếu tố trong và ngoài nước đều đang có nhiều diễn biến khá phức tạp. Các công cụ dự báo gần đây cho thấy, lãi suất của Mỹ sẽ còn tiếp tục neo ở mức cao lâu hơn so với các dự báo đưa ra hồi cuối năm 2023 đầu năm 2024. Trong khi đó, thời gian qua một số ngân hàng trung ương trên thế giới đã giảm lãi suất, còn ECB cũng cho biết có thể cũng giảm lãi suất vào giữa năm mà không phụ thuộc vào hành động của FED. Các diễn biến này khiến cho đồng USD đang có xu hướng tăng trên thị trường tiền tệ quốc tế. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng USD đã tăng khoảng 5% kể từ đầu năm đến nay. Đặc biệt, trường hợp ECB hạ lãi suất, nhưng FED chưa hạ thì áp lực tăng giá của đồng USD có thể sẽ còn gia tăng.

Các diễn biến trên đang tiếp tục tạo ra áp lực lớn với tỷ giá VND/USD trong thời gian tới. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm cho rằng, sự lo lắng của thị trường tài chính - trong đó có những phiên giảm điểm sâu của chứng khoán trong nước - đang bị đẩy cao hơn bản chất của nó. Bởi lẽ, việc đồng VND mất giá so với USD diễn ra trong cùng bối cảnh chung khi các đồng tiền khác trên thế giới cũng mất giá so với USD. Hơn nữa, ông Đặng Trần Phục cho biết, tỷ giá tăng không phải mọi thứ đều tiêu cực mà vẫn có yếu tố tích cực, trong đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được hưởng lợi từ đó có tác dụng kích thích xuất khẩu.

Phiên đấu thầu vàng đầu tiên, giá trúng cao nhất là 81,33 triệu đồng/lượng

NHNN Việt Nam vừa công bố kết quả phiên đấu thầu vàng miếng SJC sáng ngày 23/4. Theo đó, có 2 thành viên trúng thầu với tổng khối lượng trúng thầu là 34 lô, tương ứng với 3.400 lượng vàng miếng SJC. Giá trúng thầu cao nhất là 81,33 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 81,32 triệu đồng/lượng.

Trước đó theo thông báo đấu thầu của NHNN, phiên đấu thầu thực hiện theo hình thức cạnh tranh giá, khối lượng vàng miếng của 1 lô giao dịch là 100 lượng, loại vàng là vàng miếng SJC được Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất. Tổng khối lượng dự kiến đấu thầu là 16,8 nghìn lượng, giá tham chiếu để tính giá đặt cọc là 80,7 triệu đồng/lượng.

Các thành viên tham gia đấu thầu phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Thông tư số 06/2013/TT-NHNN ngày 12/3/2013 của Thống đốc NHNN hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và Quyết định 563/QĐ-NHNN của NHNN ngày 18/3/2013 về quy trình mua, bán vàng miếng.

Các thành viên phải đặt cọc 10% tổng giá trị dự thầu. Khối lượng đấu thầu tối thiểu một thành viên được phép đặt thầu là 14 lô (tương đương 1.400 lượng vàng), khối lượng đấu thầu tối đa một thành viên được phép đặt thầu là 20 lô (tương đương 2.000 lượng vàng).

Bước giá dự thầu là 10.000 đồng/lượng, bước khối lượng dự thầu là 1 lô (tương đương 100 lượng vàng). Trong phiên đấu thầu lần này, mỗi thành viên dự thầu chỉ được đăng ký 1 mức giá tối thiểu bằng hoặc cao hơn giá sàn do NHNN công bố.

Như vậy, hoạt động đấu thấu vàng đã chính thức tái khởi động trở lại sau hơn 10 năm. Trước đó hồi năm 2013, NHNN đã tổ chức 74 phiên đấu thầu vàng, qua đó cung ứng ra thị trường 1.785.200 lượng vàng, tương đương hơn 68,6 tấn vàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17872 18445
CAD 17966 18241 18856
CHF 31835 32216 32858
CNY 0 3831 3923
EUR 29369 29589 30667
GBP 34045 34435 35367
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14618 15208
SGD 19756 20037 20603
THB 704 767 820
USD (1,2) 26043 0 0
USD (5,10,20) 26084 0 0
USD (50,100) 26113 26127 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,466
USD20 26,146 26,196 26,466
USD1 26,146 26,196 26,466
AUD 17,824 17,924 19,036
EUR 29,703 29,703 31,112
CAD 18,106 18,206 19,510
SGD 19,999 20,149 20,703
JPY 158.75 160.25 164.81
GBP 34,232 34,582 35,444
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80