Bảo hiểm phi nhân thọ: Tăng vốn, chia cổ tức làm “nóng” mùa đại hội cổ đông

Hồng Chi
(TBTCO) - Kỳ vọng vào sự hồi phục của thị trường bảo hiểm thời gian tới, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2022, các cổ đông của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã nhất trí thông qua phương án tăng vốn điều lệ, chi trả cổ tức cao, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận ở mức cao…
aa

PJICO chia cổ tức tăng 60%, MIC tăng vốn điều lệ lên 1.930,5 tỷ đồng

Tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2022 của Bảo hiểm PJICO đã thông qua đề xuất chia cổ tức năm 2021 bằng tiền là 8% - tăng 60% so với kế hoạch (kế hoạch là 5%). Cùng với việc thông qua phương án chia cổ tức vượt trội so với các năm, ĐHĐCĐ của Bảo hiểm PJICO cũng thông qua tờ trình sửa đổi bổ sung điều lệ sau khi kết thúc đợt phát hành cổ phiếu thưởng để tăng vốn. Như vậy, vốn điều lệ của PJICO sau khi tăng vốn sẽ là hơn 1.108 tỷ đồng, với các cổ đông lớn là Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, Samsung Fire and Marine Insurance Co., LTD (SFMI), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

Đại diện Bảo hiểm Quân đội (MIC) cũng cho biết, ĐHĐCĐ Bảo hiểm MIC đã thông qua tờ trình trả cổ tức 2022 dự kiến 15% và tăng vốn điều lệ từ 1.430 tỷ đồng lên 1.930,5 tỷ đồng. Đồng thời, đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu năm 2022 tối thiểu 40% và lợi nhuận tăng tối thiểu 35% so với mức thực hiện năm 2021.

Theo đại diện MIC, việc bổ sung vốn giúp doanh nghiệp tăng mức giữ lại đối với các hợp đồng, nghiệp vụ bảo hiểm có hiệu quả, từ đó cải thiện lợi nhuận, đồng thời tăng năng lực tài chính, tạo tiền đề để nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc tế. Theo đại diện Bảo hiểm PTI, năm 2022, PTI đặt mục tiêu doanh thu bảo hiểm đạt 6.350 tỷ đồng, đồng thời tiếp tục tập trung vào hai nghiệp vụ bán lẻ trọng tâm là bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người. Tại ĐHĐCĐ, phương án không chia cổ tức cũng được thông qua. Được biết, năm 2021 ĐHĐCĐ đã thông qua phương án chia cổ tức 10%, tuy nhiên theo tờ trình phân phối lợi nhuận năm 2021 và kế hoạch phân phối lợi nhuận năm 2022 hội đồng quản trị của PTI cũng đề xuất không chia cổ tức năm 2021 để thực hiện kế hoạch tăng vốn.

Chủ tịch Hội đồng quản trị BIC Trần Xuân Hoàng trình bày những định hướng của BIC năm 2022 và trong những năm tới Ảnh: DN
Chủ tịch Hội đồng quản trị BIC Trần Xuân Hoàng trình bày những định hướng của BIC năm 2022 và trong những năm tới Ảnh: DN

Tại ĐHĐCĐ năm 2022 của Bảo hiểm VietinBank (VBI) đã xác định năm 2022 là năm trọng điểm để VBI tập trung bứt phá, tăng trưởng. Do đó, doanh thu kế hoạch dự kiến lên 3.100 tỷ đồng, tăng 30%. Mục tiêu lợi nhuận năm 2022 chạm ngưỡng 300 tỷ đồng, tăng gần 50% so với năm 2021, đưa công ty vào top 5 doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, qua đó nâng cao vị thế và giá trị và đóng góp của VBI vào hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.

Đại diện Bảo hiểm BIC cho biết, năm 2022, song song với việc tiếp tục theo đuổi mục tiêu hiệu quả hoạt động, BIC sẽ nỗ lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng quy mô doanh thu phí bảo hiểm. Cụ thể, BIC đặt mục tiêu đạt 3.310 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm, tăng trưởng 15% so với năm 2021, đồng thời tiếp tục duy trì và nâng cao lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

ĐHĐCĐ Bảo hiểm Bảo Minh cũng thông qua mục tiêu doanh thu năm 2022 tăng 6,6% lên 5.700 tỷ đồng, lợi nhuận tăng 11,11% lên 340 tỷ đồng. Cổ tức dự kiến tối thiểu 15%. Bảo Minh cũng đặt mục tiêu phát triển mảng bán lẻ bao gồm nghiệp vụ bảo hiểm con người và xe cơ giới...

Kỳ vọng hoàn thành mục tiêu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đại diện Bảo hiểm BIC cho biết, công ty sẽ tập trung vào các giải pháp như: Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu phù hợp hơn với thực tế và định hướng kinh doanh; nâng cao chất lượng quản trị điều hành, quản lý rủi ro. Đồng thời cải thiện chất lượng dịch vụ trước, trong và sau bán hàng; mở rộng mạng lưới kinh doanh tại các địa bàn trọng điểm.

Theo đại diện Bảo hiểm PTI để đạt được những mục tiêu quan trọng này, Bảo hiểm PTI định hướng tiếp tục đầu tư trọng điểm vào công nghệ thông tin, áp dụng công nghệ quản lý hiện đại trong toàn bộ các mảng hoạt động kinh doanh; cải tiến và ra mắt sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Ngoài ra, PTI cũng tìm kiếm và mở rộng hợp tác với các công ty Fintech, Insurtech, nâng cao hiệu quả đầu tư thông qua việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư an toàn và có tỉ lệ sinh lời cao.

Tăng chất lượng tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ trung gian

Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ có thêm những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng cung cấp dịch vụ, năng lực tài chính, đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức cung cấp dịch vụ trên thị trường, đặc biệt là các công ty chứng khoán, công ty kiểm toán độc lập, công ty quản lý quỹ, hoạt động của hệ thống công ty định giá tài sản, định mức tín nhiệm, kế toán, kiểm toán.

Chia sẻ về mục tiêu tham vọng năm 2022, đại diện Bảo hiểm VBI cho biết sẽ tập trung nguồn lực để khai thác các sản phẩm có hiệu quả, đặc biệt các sản phẩm trọng điểm. Về kênh phân phối, VBI tập trung khai thác các kênh bán hàng có ưu thế cạnh tranh, khai thác tối đa tiềm năng kênh phân phối qua ngân hàng trong hệ sinh thái VietinBank. Đặc biệt, với lợi thế cạnh tranh của VBI là ứng dụng hệ thống công nghệ 4.0 vào hoạt động và cung cấp dịch vụ, trong năm 2022, VBI tiếp tục cải tiến hệ thống công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung để khai thác dữ liệu một cách đồng nhất…

Theo các chuyên gia trong ngành bảo hiểm, cùng với khả năng phục hồi của nền kinh tế, với định hướng phát triển bền vững, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ được dự báo sẽ lấy lại đà tăng trưởng. Các lĩnh vực bảo hiểm bán lẻ sẽ phục hồi và bứt phá trong năm 2022 nhờ nỗ lực triển khai hàng loạt chính sách hỗ trợ của cơ quan quản lý và các giải pháp phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm, kỳ vọng doanh nghiệp sẽ hoàn thành kế hoạch được đề ra tại ĐHĐCĐ.

Hồng Chi

Đọc thêm

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80