Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm ABIC: Đưa lợi nhuận tăng vọt, tham gia bảo hiểm gói tín dụng 83.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, ABIC đặt mục tiêu đạt 2.650 tỷ đồng doanh thu bảo hiểm và tối thiểu 315 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 23%. Doanh nghiệp đồng hành triển khai Đề án 1 triệu ha lúa và 5 vùng nguyên liệu chuẩn dự kiến cấp tín dụng 83 nghìn tỷ đồng giai đoạn 1, trong đó tập trung triển khai bảo hiểm tài sản và sức khỏe cho người vay vốn.
aa

Chiều ngày 26/6, tại Hà Nội, Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC - mã Ck: ABI) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025.

Phấn đấu tăng lợi nhuận trước thuế 23% lên 315 tỷ đồng

Trình bày tờ trình đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh năm 2024, mục tiêu và giải pháp kinh doanh năm 2025 tại đại hội, ông Hoàng Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị ABIC nêu rõ, năm 2025 dự báo nền kinh tế thế giới vẫn chịu ảnh hưởng từ những bất ổn toàn cầu như xung đột địa chính trị, nguy cơ suy thoái kinh tế và tác động khó lường của biến đổi khí hậu.

Tình hình thiên tai, dịch bệnh tiếp tục đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi sự thích nghi nhanh chóng của các nền kinh tế, bao gồm Việt Nam. Với nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam tiếp tục chịu tác động từ những biến động quốc tế.

Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm ABIC
Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của Bảo hiểm ABIC. Ảnh: Ánh Tuyết.

Trong năm 2025, Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu tăng trưởng mạnh, với doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm dự kiến đạt 2.650 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế tối thiểu 315 tỷ đồng, tăng 23% so với năm trước, tiến gần hơn tới mức đỉnh 366,4 tỷ đồng đạt được vào năm 2020. ABIC đặt kế hoạch đạt doanh thu đầu tư tài chính 140 tỷ đồng.

Tuy nhiên, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu ở mức 8% cao hơn so với năm 2024, phản ánh kỳ vọng về sự phục hồi và ổn định kinh tế.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15 - 17%, tạo cơ sở quan trọng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm qua kênh tín dụng.

Ngành bảo hiểm vẫn nằm trong chiến lược phát triển dài hạn của Chính phủ. Năm 2025, thị trường bảo hiểm cũng có những bước chuyển biến tích cực nhờ định hướng chiến lược và khung khổ pháp lý mới làm nền tảng phát triển bền vững cho thị trường.

Đề cập đến các giải pháp thực hiện kế hoạch kinh doanh, lãnh đạo ABIC cho biết sẽ tiếp tục khai thác tiềm năng của ngân hàng mẹ, bám sát địa bàn để kịp thời nắm bắt thông tin về giải ngân, về tài sản bảo đảm, phối hợp chặt chẽ với cán bộ ngân hàng/đại lý viên để tiếp cận và bán bảo hiểm. Đẩy mạnh triển khai bán bảo an tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp tại các chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng mẹ khu vực nội đô.

Bên cạnh đó, phát triển kênh phân phối và sản phẩm thông qua tiếp tục triển khai tốt thỏa thuận hợp tác toàn diện giữa ABIC và ngân hàng mẹ. Bám sát tiến độ thực hiện của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong các Đề án 1 triệu ha lúa và đề án 5 vùng nguyên liệu đạt chuẩn để phối hợp triển khai thí điểm bảo hiểm thiệt hại cây lúa tại các hợp tác xã trong năm 2025 và tìm đối tác xây dựng sản phẩm bảo hiểm cho tất cả các loại cây trồng thuộc đề án của Bộ.

Lên kế hoạch tăng vốn 40%

Tại đại hội, Hội đồng Quản trị của ABIC cũng trình đại hội phê duyệt đăng ký niêm yết cổ phiếu ABI trên sàn giao dịch chính thức giai đoạn 2026 - 2030. Về phương án tăng vốn điều lệ, ABIC sẽ phát hành 14,5 triệu cổ phiếu để chi trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu, tương đương 20% số cổ phiếu đang lưu hành, từ nguồn lợi nhuận để lại, qua đó tăng vốn điều lệ thêm gần 145 tỷ đồng.

Đồng thời, Công ty dự kiến phát hành thêm 14,5 triệu cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, cũng tương đương 20% lượng cổ phiếu đang lưu hành, tiếp tục tăng vốn điều lệ thêm gần 145 tỷ đồng.

Về phương án tăng vốn điều lệ, ông Trần Anh Tuấn - Thành viên Hội đồng Quản trị cho biết, việc tăng vốn điều lệ được thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu, đó là trả cổ tức năm 2024 và phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu (quỹ đầu tư phát triển), với tổng tỷ lệ phát hành 40%, nâng tổng vốn ABIC từ 723,9 tỷ đồng lên hơn 1.013 tỷ đồng.

Theo ông Trần Anh Tuấn - Thành viên Hội đồng Quản trị ABIC, việc tăng vốn điều lệ giúp nâng cao tỷ lệ an toàn vốn và tăng cường trách nhiệm giữ lại với các nghiệp vụ bảo hiểm có hiệu quả, giúp gia tăng lợi nhuận. "ABIC sẽ củng cố năng lực đấu thầu, đặc biệt trong việc tham gia các hợp đồng bảo hiểm lớn và các dự án trọng điểm" - ông Tuấn nói.

Đồng thời, điều này góp phần nâng cao mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp khi tham gia xếp hạng tại các tổ chức quốc tế; đàm phán thành công với các nhà tái bảo hiểm quốc tế; mở rộng danh mục đầu tư nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn.

Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm ABIC
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tại Đại hội, cổ đông đặt nhiều câu hỏi xoay quanh hoạt động kinh doanh cốt lõi của ABIC. Đơn cử, dù bảo hiểm sức khỏe vẫn là mảng chủ lực, tỷ trọng trong tổng doanh thu phí gốc đang giảm, cổ đông đặt ra câu hỏi về định hướng tái cơ cấu sản phẩm. Cổ đông quan tâm đến việc phối hợp triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa theo đề án của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và tác động của việc bắt buộc bảo hiểm cháy nổ với một số đối tượng đến doanh thu.

Ngoài ra, các vấn đề như tỷ lệ chi phí kết hợp (Combine ratio) tăng lên giai đoạn 2022 - 2024, kế hoạch tăng vốn; thay đổi nhân sự cấp cao; giải pháp khắc phục gian lận, trục lợi bảo hiểm; phát triển mạng lưới chi nhánh và đưa cổ phiếu lên sàn cũng được đưa ra thảo luận.

Trả lời cổ đông, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng Quản trị ABIC cho biết, giai đoạn 2026 - 2030, ABIC định hướng xây dựng chiến lược phát triển mới, trong đó tiếp tục tập trung bám sát xu thế nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững, góp phần đồng hành cùng các chương trình phát triển nông nghiệp quốc gia.

Liên quan Đề án 1 triệu ha lúa và đề án 5 vùng nguyên liệu đạt chuẩn, ông Hoàng cho biết, ABIC đang tích cực tham gia vào đề án trọng điểm quốc gia. Ngân hàng mẹ đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để cung cấp tín dụng cho chương trình.

"Ngày mai (27/6), tại Cần Thơ, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hiệp hội Bảo hiểm, lãnh đạo 12 tỉnh, thành lắng nghe 3 doanh nghiệp bảo hiểm trình bày giải pháp, chính sách bảo hiểm cho Đề án, tập trung vào các sản phẩm bảo hiểm tài sản, tính mạng người vay vốn liên quan đến khoản vay tại Agribank" - ông Hoàng thông tin.

Tổng quy mô Đề án do Thống đốc phê duyệt dự kiến lên tới 83 nghìn tỷ đồng giai đoạn 1 đến năm 2026, tương ứng 30% nhu cầu. Công ty cũng đang phối hợp với đối tác Nhật Bản triển khai phân phối bảo hiểm qua ứng dụng dành cho hợp tác xã và hộ nông dân.

Liên quan đến công tác nhân sự, lãnh đạo ABIC cho biết, Công ty đang thực hiện quy trình trình cấp có thẩm quyền xem xét, với phương án lựa chọn nhân sự từ nội bộ, những người am hiểu văn hóa doanh nghiệp và định hướng chiến lược theo yêu cầu cổ đông. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, phương án này vẫn chưa được phê duyệt chính thức./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 03/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80