Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội: Bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao động

Ngọc Dũng
(TBTCVN) - Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính quyền trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động trên địa bàn, Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội đã ký kết quy chế phối hợp liên ngành với các sở, ban, ngành trên địa bàn.
aa

bh

Bảo hiểm Xã hội TP. Hà Nội phối hợp với Thanh tra TP. Hà Nội thực hiện thanh tra 75 doanh nghiệp nợ đóng Bảo hiểm Xã hội năm 2020.

Nhờ đó, tỷ lệ nợ đóng bảo hiểm xã hội đã giảm mạnh trong những năm gần đây.

Nợ đóng BHXH giảm mạnh

Bảo hiểm xã hội (BHXH) TP. Hà Nội là một trong những địa phương có số đơn vị tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) lớn nhất cả nước, đồng thời tỷ lệ nợ đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp luôn cao hơn tỷ lệ trung bình chung. Với quyết tâm phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đóng BHXH, ban lãnh đạo BHXH thành phố đã tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, UBND các cấp, của BHXH Việt Nam, đặc biệt đã huy động được sự vào cuộc quyết liệt của các sở, ban, ngành, thể hiện bằng việc ký kết quy chế phối hợp liên ngành (số 1460/QCPH-CA-LĐTBXH-LĐLĐ-CT-BHXH - Quy chế phối hợp 1460) ngày 21/6/2017 giữa Công an thành phố Hà Nội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Hà Nội, Liên đoàn Lao động TP. Hà Nội, Cục Thuế TP. Hà Nội, BHXH TP. Hà Nội về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp các chế độ BHXH, BHYT, BHTN của người lao động trên địa bàn thành phố giai đoạn 2017 - 2020.

Quy chế phối hợp 1460 đã thực sự mang lại hiệu quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; trong thực hiện các biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHXH, BHYT. Giai đoạn 2017 - 2020, BHXH thành phố luôn hoàn thành và vượt các chỉ tiêu được HĐND, UBND thành phố giao về tỷ lệ bao phủ BHYT, tỷ lệ số người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN và tốc độ gia tăng số người tham gia BHXH tự nguyện. Đồng thời, tỷ lệ nợ đóng BHXH giảm mạnh. Năm 2016, tỷ lệ nợ đóng BHXH ở mức cao là 7,99%; năm 2017, tỷ lệ nợ đóng BHXH giảm xuống còn 3,9%; năm 2018, tỷ lệ nợ giảm còn 2,53%; năm 2019, tỷ lệ nợ giảm còn 1,98%. Năm 2020, mặc dù các doanh nghiệp trên địa bàn gặp khó khăn vì dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động, nhưng tỷ lệ nợ đọng BHXH của toàn thành phố là 2,58%.

Đặc biệt, trong thời gian thực hiện quy chế phối hợp, nhờ sự vào cuộc của các đơn vị, công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai rộng rãi và quyết liệt, qua đó, thu hồi được số lượng lớn tiền nợ đọng BHXH. Năm 2018, lực lượng chức năng đã thanh tra, kiểm tra 4.913 cuộc, thu hồi được 581,5 tỷ đồng, đạt 56,5% tổng số tiền nợ; năm 2019 đã thanh tra, kiểm tra 5.913 cuộc, thu hồi được 590 tỷ đồng, đạt 57,7%; năm 2020 đã thanh tra, kiểm tra 2.826 cuộc, thu hồi được 351,5 tỷ đồng, đạt 66,7%.

Đánh giá về lợi ích khi thực hiện Quy chế phối hợp 1460, ông Lê Đình Hùng – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội cho biết, trong thời gian thực hiện quy chế phối hợp liên ngành, Liên đoàn Lao động thành phố, BHXH thành phố và các sở, ngành thành viên đã triển khai nhiều hoạt động, thực hiện nhiều giải pháp. Qua đó, góp phần tích cực trong công tác thu hồi nợ đóng BHXH, góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa ổn định trong doanh nghiệp, không xảy ra tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc trên địa bàn thành phố.

Tiếp tục ký kết quy chế phối hợp giai đoạn 2021 - 2025

Để tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của chính quyền trong việc thực thi chính sách BHXH, BHYT, ngày 1/2/2021, 7 sở ngành của TP. Hà Nội bao gồm: Công an thành phố, Liên đoàn Lao động – Sở Lao động Thương binh & Xã hội, Sở Y tế, Thanh tra, Cục thuế, BHXH Hà Nội đã ký kết Quy chế phối hợp số 588/QCPH-CA-LĐTBXH-SYT-LĐLĐ-CT-TTTP-BHXH (Quy chế phối hợp 588) về thực hiện các giải pháp, biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp các chế độ BHXH, BHYT của người lao động trên địa bàn TP. Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025.

Mục đích của việc ký kết Quy chế phối hợp 588 nhằm tuyên truyền, vận động các tổ chức, đơn vị, cá nhân trên địa bàn thành phố nhận thức, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Thanh tra, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật BHYT, Luật Việc làm, Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật quản lý thuế, Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận BHXH, BHTN, Điều 215 về tội gian lận BHYT và Điều 216 về tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động của Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Quy chế phối hợp 588 đã kế thừa các quy định trong Quy chế phối hợp 1460 và bổ sung cụ thể trách nhiệm của các sở, ngành trong phối hợp thực hiện phát triển, mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Đồng thời, Quy chế phối hợp 588 cũng bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm liên quan trong việc khởi tố đối với các đơn vị có hành vi gian lận BHXH, BHYT, BHTN, cố tình nợ đóng, trốn đóng BHXH cho người lao động.

Ngoài ra, Quy chế phối hợp 588 cụ thể hóa quy định về việc xét khen thưởng đối với các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn. Theo đó, BHXH thành phố, Công an, Liên đoàn Lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Thanh tra, Cục Thuế trước khi vinh danh, khen thưởng, xét tham gia đấu thầu và đấu thầu dự án đối với các đơn vị phải yêu cầu BHXH thành phố xác nhận về việc đơn vị có vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT không; BHXH thành phố có trách nhiệm xác nhận gửi các cơ quan liên quan trong 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; không xét khen thưởng các đơn vị vi phạm pháp luật lao động, công đoàn, BHXH, BHYT, thuế.

Ông Vũ Đức Thuật – Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội TP. Hà Nội cho biết, với những hiệu quả thiết thực mà Quy chế phối hợp 1460 đã mang lại, Bảo hiểm Xã hội thành phố xác định trong giai đoạn tiếp theo, đẩy mạnh thực hiện quy chế phối hợp liên ngành là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc duy trì, tiếp tục đảm bảo thực hiện pháp luật về Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm Y tế, quyền lợi chính đáng của người lao động.

Ngọc Dũng

Ngọc Dũng

Đọc thêm

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80