Thị trường tiền tệ tuần 5-8.9:

Chính thức được “vay khoản mới, trả khoản cũ”, tiếp tục bàn giải pháp thúc đẩy tín dụng

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, Thông tư 06/2023-TT-NHNN đã chính thức áp dụng mở ra hàng lang pháp lý đầy đủ hơn cho các ngân hàng thực hiện các hoạt động cho vay, trong đó có quy định cho phép vay khoản mới để trả khoản cũ. Ngoài ra, Chính phủ tiếp tục thể hiện sự quan tâm, thể hiện qua cuộc họp với những nội rất cụ thể để tiếp tục các giải pháp hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hỗ trợ nền kinh tế.
aa

Được vay khoản mới để trả khoản cũ

Sau đợt nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9, giới ngân hàng trở lại hoạt động cùng với việc bắt tay chính thức thực hiện các quy định mới của Thông tư số 06, khi văn bản này đã chính thức có hiệu lực.

Ngoài các quy định liên quan đến hoạt động cho vay theo hình thức điện tử, một trong những nội dung đáng quan tâm trong Thông tư 06 là cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) được xem xét, quyết định cho khách hàng vay để trả nợ khoản vay tại TCTD khác với mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống.

Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho biết, quy định này sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận thêm các vốn tín dụng ngân hàng, có thêm cơ hội lựa chọn dịch vụ và tiện ích tốt hơn tại các TCTD khác (nếu có).

Chính thức được “vay khoản mới, trả khoản cũ”, tiếp tục bàn giải pháp thúc đẩy tín dụng
Từ tháng 9/2023, khách hàng được vay ngân hàng này để trả nợ ngân hàng khác. Ảnh: T.L
Cho vay trực tuyến, ngân hàng thêm cơ hội đẩy mạnh tín dụng bán lẻ Tiếp tục tìm giải pháp khơi thông tín dụng hỗ trợ nền kinh tế

Đơn cử như trường hợp một khách hàng cá nhân đang có dư nợ của khoản vay mua nhà tại một ngân hàng A. Tuy nhiên, khách hàng nhận thấy tại ngân hàng B, cùng khoản vay như vậy nhưng lãi suất thấp hơn, nhiều ưu đãi hơn thì hoàn toàn có thể đển ngân hàng B đề xuất nhu cầu vay vốn để trả nợ trước hạn cho khoản đang vay tại ngân hàng A. Như vậy, khách hàng dễ dàng tiếp cận khoản vay mới với mức chi phí thấp hơn, được tiếp cận và sử dụng thêm các dịch vụ mới.

Chính phủ tiếp tục quan tâm thúc đẩy tín dụng

Một trong những hoạt động đáng quan tâm tuần qua là cuộc họp của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái với lãnh đạo NHNN và đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan trung ương, ngân hàng thương mại, hiệp hội doanh nghiệp, các chuyên gia kinh tế bàn về giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cho biết, trong công tác chỉ đạo điều hành kinh tế nói chung, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn rất quan tâm, trăn trở, cầu thị, lắng nghe ý kiến từ các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp. Qua đó, nhiều giải pháp chỉ đạo sâu sát, kịp thời đang được thực hiện nhằm bảo đảm kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn,… để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, phát triển kinh tế.

Tăng trưởng tín dụng vẫn chậm sau 8 tháng

NHNN cho biết, đến cuối tháng 8/2023, tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 12,56 triệu tỷ đồng, tăng 5,33% so với cuối năm 2022 (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,87%). Tốc độ tăng trưởng theo đó còn khá xa so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% cho cả năm 2023. Trong 3 năm gần đây, tín dụng toàn hệ thống tăng thêm bình quân khoảng 1 triệu tỷ đồng/năm.

Tại cuộc họp này, lãnh đạo NHNN cho biết, trong bối cảnh thanh khoản hệ thống TCTD dư thừa và còn rất nhiều dư địa để tăng trưởng tín dụng (toàn hệ thống còn khoảng 9% để tăng trưởng tín dụng, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng). Lãi suất cho vay có xu hướng giảm, từ đó TCTD vẫn có điều kiện thuận lợi để cung ứng vốn tín dụng đối với nền kinh tế.

Các chuyên gia tham gia cuộc họp cho rằng, thời gian qua Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ, NHNN trong điều hành kinh tế nói chung và điều hành chính sách tiền tệ nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn chung của tổng cầu hiện nay, khả năng hấp thụ vốn thấp nên việc triển khai giản ngân tín dụng chưa được như kỳ vọng.

Góp ý về giải pháp, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, bên cạnh việc giải quyết những vấn đề trước mắt, lúc này cũng phải “bàn chuyện dài hạn”, tính toán xem ngành nào, lĩnh vực nào có thể “kéo 100 triệu dân đi lên” trong thời gian tới để có các giải pháp phù hợp, hiệu quả. Ông Nghĩa cũng nêu các kiến nghị liên quan đến việc mua bán sáp nhập doanh nghiệp để tái cấu trúc nền kinh tế; hỗ trợ ngành dệt may chuyển đổi công nghệ mới, chuyển đổi xanh; hỗ trợ sản xuất nông nghiệp...

Chính thức được “vay khoản mới, trả khoản cũ”, tiếp tục bàn giải pháp thúc đẩy tín dụng
Vàng miếng trong nước đang thu hút sự quan tâm. Ảnh: T.L

Vàng trong nước bất ngờ “nóng” vào cuối tuần

Giá vàng thế giới vẫn trong trạng thái thăm do trước nhiều yếu tố vĩ mô khác nhau chi phối đến giá vàng. Mặc dù vậy, cuộc khảo sát vừa qua của Bloomberg với các nhà đầu tư gồm quản lý tài sản quốc gia và các quỹ đầu cơ cho thấy, họ đều không giảm lượng vàng nắm giữ mà sẽ duy trì hoặc tăng thêm trong 12 tháng tới. Một số người cho rằng giá vàng sẽ tăng khi kinh tế Mỹ “hạ cánh mềm” thay vì bước vào thời kỳ suy thoái như các dự báo trước đây.

Giới đầu tư vẫn đang theo dõi thời điểm Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) kết thúc thời kỳ thắt chặt tiền tệ, tín hiệu quan trọng ảnh hưởng đến giá vàng. Chiều ngày 8/9, giá vàng thế giới giao dịch ở mức khoảng 1.925 USD/ounce, cao hơn khoảng 9 USD mỗi ounce so với cuối tuần trước.

Đáng chú ý là sự bùng nổ của giá vàng trong nước, đặc biệt là vàng miếng vào hôm thứ sáu cuối tuần.

Sáng ngày 8/9, giá vàng miếng do Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết bật tăng mạnh tới 450 nghìn đồng mỗi lượng so với hôm trước. Cụ thể, vàng miếng SJC 9999 loại 1 lượng trở lên niêm yết ở mức 68,2 triệu đồng/lượng mua vào và 68,9 triệu đồng/lượng bán ra.

Chiều ngày 8/9, giá vàng miếng đã có chiều hướng điều chỉnh giảm, trở về mức 68,05 triệu đồng/lượng mua và và 68,75 triệu đồng mỗi lượng bán ra. Tuy nhiên, mặt bằng giá này vẫn cao hơn khoảng 300 nghìn đồng mỗi lượng so với sáng 7/9 và cao hơn khoảng 500 nghìn đồng mỗi lượng so với trước đó một tuần. Nhìn lại quãng thời gian dài hơn, giá vàng miếng SJC thời điểm chiều 8/9 đã cao hơn tới 800 nghìn đồng mỗi lượng so với 2 tuần trước.

Hỗ trợ tín dụng chuyển đổi xanh và những ngành hàng có triển vọng

Theo đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thời gian qua việc điều hành và những giải pháp hệ thống ngân hàng đưa ra rất quyết liệt, linh hoạt, đạt được những kết quả khá tích cực.

Đối với Hiệp hội Dệt May, việc sản xuất gặp khó khăn do thiếu đơn hàng và đơn giá thấp. Doanh nghiệp không có cơ hội sản xuất kinh doanh khả dĩ thì không vay tiền để làm gì dù lãi suất có thấp.

Trước mắt, nhu cầu của thị trường hàng dệt may chưa thể một sớm một chiều tăng lên được, tuy nhiên nhìn về lâu dài có rất nhiều cơ hội kinh doanh và nhu cầu vốn rất lớn, nhất là trong “chuyển đổi xanh”.

Đại diện Hiệp hội Dệt may đề xuất nhà nước và ngành ngân hàng nên có chính sách hỗ trợ về đất đai, vốn cho doanh nghiệp dệt may đầu tư chuyển đổi công nghệ, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong tương lai.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/6: Giá vàng tăng mạnh, vượt mốc 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh từ 3,5 - 4,5 triệu đồng/lượng, đưa giá giao dịch phổ biến vượt mốc 150 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/6: Giá vàng thế giới tăng lên 4.302 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 15/6: Giá vàng thế giới tăng lên 4.302 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 82 USD/ounce so với phiên trước, lên 4.302 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, duy trì quanh mức 144 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/6: Vàng miếng, vàng nhẫn dễ dàng lấy lại mốc 147 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/6: Vàng miếng, vàng nhẫn dễ dàng lấy lại mốc 147 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Đà tăng của giá vàng tiếp tục tiếp diễn khi nhiều doanh nghiệp điều chỉnh tăng từ 1 - 1,6 triệu đồng/lượng, đưa giá giao dịch phổ biến lên mức 144 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/6: Giá vàng bật tăng "phi mã", nhảy thêm 1,6 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 13/6: Giá vàng bật tăng "phi mã", nhảy thêm 1,6 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh lên tới 9,5 triệu đồng/lượng, đưa vàng miếng và vàng nhẫn tiến sát mốc 146 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

Sau nhịp điều chỉnh sâu, giá vàng còn nhiều động lực lấy lại mốc 5.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới đang trong giai đoạn tích lũy và điều chỉnh sau chuỗi tăng mạnh trước đó. Có quan điểm cho rằng, giá vàng có thể giảm xuống dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce và tìm điểm cân bằng quanh 3.900 USD/ounce, song triển vọng dài hạn vẫn tích cực. Theo nhóm phân tích của Ngân hàng UOB, giá vàng có thể lên tới 5.200 USD/ounce trong quý II/2027.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 ▼150K 15,030 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,730 ▼170K 15,030 ▼120K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,730 ▼170K 15,030 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 13,850 ▼300K 14,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,800 ▼300K 14,000 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 ▼100K 14,950 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 ▼100K 14,900 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 ▼100K 14,880 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 ▼50K 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 ▼50K 15,130
NL 99.90 13,750 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800 ▼100K
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18758
CAD 18105 18380 18999
CHF 32096 32478 33127
CNY 0 3847 3940
EUR 29536 29757 30838
GBP 34007 34397 35346
HKD 0 3228 3430
JPY 156 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14847 15434
SGD 19847 20129 20710
THB 718 781 834
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80