Kỳ vọng thị trường bảo hiểm sớm lấy lại tăng trưởng dương

Duy Thái
(TBTCO) - Nhiều ý kiến đều đồng thuận cho rằng, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bước qua giai đoạn khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Niềm tin của khách hàng đã và đang tăng dần trở lại khi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã cùng khẩn trương hành động. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm vẫn cần nhiều nỗ lực hơn để lấy lại tốc độ tăng trưởng dương và xây ước vọng về một thị trường phát triển minh bạch, bền vững.
aa
Kỳ vọng thị trường bảo hiểm sớm lấy lại tăng trưởng dương
Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã tích cực thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp để tăng sự hài lòng của khách hàng. Ảnh: Duy Dũng

Niềm tin cải thiện, hồi phục dần dần

Theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tính tới hết tháng 5/2024, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) ước đạt 948.408 tỷ đồng, tăng +8,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó DNBH phi nhân thọ đạt 136.030 tỷ đồng và DNBH nhân thọ đạt 812.378 tỷ đồng.

Các DNBH đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 787.514 tỷ đồng, tăng +8,69% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, DNBH phi nhân thọ ước đạt 73.440 tỷ đồng và các DNBH nhân thọ ước đạt 714.101 tỷ đồng. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 635.125 tỷ đồng, tăng +7,8% so với cùng kỳ. Đồng thời, tổng nguồn vốn chủ sở hữu cũng tăng +10,2%, ước đạt 201.946 tỷ đồng.

Tuy nhiên, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 87.844 tỷ đồng, giảm -4,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực phi nhân thọ ước đạt 31.963 tỷ đồng, tăng +11%; song lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 55.881 tỷ đồng, giảm -11% so với cùng kỳ. Cùng với đó, chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 34.435 tỷ đồng, tăng 22,01% so với cùng kỳ, trong đó DNBH phi nhân thọ là 8.630 tỷ đồng, còn các DNBH nhân thọ là 25.805 tỷ đồng.

Qua số liệu cho thấy, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang dần tăng trưởng tích cực hơn, mặc dù tốc độ còn chậm, nhất là ở chỉ tiêu tổng doanh thu phí bảo hiểm. Doanh thu phí bảo hiểm đã “bớt âm” so với quý đầu năm (quý I/2024: -5,17%), nhưng chủ yếu là do sự bù đắp của mảng phi nhân nhân thọ, còn lại mảng nhân thọ vẫn hồi phục chậm.

Trên thực tế thời gian qua, nhiều DNBH đã có nhiều chuyển động tích cực để tìm lại niềm tin cho thị trường nói chung, cải thiện chất lượng dịch vụ cho khách hàng và cũng là “cứu chính mình”.

Mới đây, tại hội thảo "Khôi phục niềm tin ngành bảo hiểm nhân thọ: Tầm nhìn và Giải pháp", ông Ngô Trung Dũng - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) cho biết, thời gian qua, các DNBH nhân thọ đã tích cực thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp để tăng sự hài lòng của khách hàng. Theo đó, một số doanh nghiệp đưa ra các sáng kiến giúp khách hàng thuận tiện hơn khi đọc hợp đồng bảo hiểm; đẩy mạnh việc cải tiến các quy trình nghiệp vụ, giúp việc thẩm định phát hành hợp đồng bảo hiểm, giải quyết quyền lợi bảo hiểm được nhanh chóng, thuận tiện hơn cho khách hàng. Đồng thời, các DNBH cũng nâng cao chất lượng đội ngũ tư vấn cũng như kiểm soát chất lượng tư vấn; nâng cao trải nghiệm khách hàng để mang lại giá trị gia tăng về sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm. "Các giải pháp này đã bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực" - ông Ngô Trung Dũng.

“Nền móng” được củng cố, cơ hội cho phát triển bền vững

Theo ông Nguyễn Xuân Việt - Chủ tịch AIV, các DNBH thành viên của Hiệp hội đánh giá cao những giải pháp từ phía cơ quan quản lý và chính từ các DNBH để khắc phục được những tồn tại, hạn chế, giúp cho thị trường phát triển ngày càng lành mạnh, bền vững.

“Khuôn khổ pháp lý về kinh doanh bảo hiểm đã được hình thành đầy đủ và đồng bộ, đảm bảo môi trường pháp lý công khai, minh bạch, bình đẳng cho các DNBH tham gia hoạt động trên thị trường” - Chủ tịch AIV nói.

Trước đó, đại diện cơ quan quản lý cũng chia sẻ, thị trường bảo hiểm, nhất là bảo hiểm nhân thọ hiện nay đang còn nhiều khó khăn, thách thức phải vượt qua. Tuy nhiên, với sự nỗ lực và các giải pháp từ phía cơ quan quản lý, sự điều chỉnh từ phía DNBH… tin tưởng rằng, thị trường bảo hiểm sẽ tiếp tục phát triển một cách bền vững, chất lượng dịch vụ bảo hiểm sẽ ngày càng được nâng cao và niềm tin của người dân tham gia bảo hiểm sẽ được củng cố.

Báo cáo vừa mới phát hành của Vietnam Report cũng cho hay, kinh tế Việt Nam năm 2024 được đánh giá có những tín hiệu phục hồi khả quan, từ đó có thể tạo ra một môi trường kinh doanh tích cực, ổn định và thuận lợi cho các DNBH, với việc tăng cường niềm tin và sự ổn định trong thị trường.

Kết quả khảo sát chuyên gia, DNBH của đơn vị này trong giai đoạn tháng 5 - 6/2024 chỉ ra, 45,5% doanh nghiệp kỳ vọng ngành bảo hiểm sẽ tăng trưởng từ 5 - 10% trong năm 2024.

Trong khi đó, theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, ngành bảo hiểm Việt Nam đang hướng tới một năm đầy triển vọng với những mục tiêu tài chính đáng chú ý. Dự kiến năm 2024, ngành bảo hiểm cũng đóng góp tích cực cho nền kinh tế thông qua số vốn đầu tư ước đạt 850.264 tỷ đồng, tăng 11,51% so với năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm dự kiến đạt 243.472 tỷ đồng, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 79.687 tỷ đồng (tăng 12%) và bảo hiểm nhân thọ ước đạt 163.785 tỷ đồng (tăng 5%).

Như vậy, soi chiếu mục tiêu đó với kết quả thực hiện gần nửa đầu năm, nhiều chỉ tiêu đặt ra năm 2024 là khả quan, tuy nhiên, để đạt được chỉ tiêu về doanh thu phí bảo hiểm vẫn cần nhiều nỗ lực hơn từ các DNBH, nhất là bảo hiểm nhân thọ.

Báo cáo của Vietnam Report cũng chỉ ra nhiều khó khăn, đặt ra thách thức để ngành bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng, đặc biệt là tăng trưởng dương đối với bảo hiểm nhân thọ. Chính vì vậy, “các DNBH buộc phải nâng tầm chất lượng, không ngừng đổi mới sáng tạo, cải thiện liên tục để không tụt hậu so với đối thủ. Ngoài ra, các chính sách và quy định cũng đóng vai trò định hình mức độ cạnh tranh khi tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng giữa các DNBH” - báo cáo cho hay.

LUẬT SƯ TRƯƠNG THANH ĐỨC - GIÁM ĐỐC CÔNG TY LUẬT ANVI: Khung pháp lý tạo điều kiện nền tảng cho phát triển bền vững
Kỳ vọng thị trường bảo hiểm sớm lấy lại tăng trưởng dương

Nhiều quy định mới trong lĩnh vực bảo hiểm như Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, Nghị định số 46, Thông tư số 67 được áp dụng đã nhấn mạnh tính minh bạch trong cung cấp bảo hiểm qua ngân hàng; đảm bảo quyền chủ động lựa chọn tham gia của khách hàng, tăng cường giám sát và đảm bảo chất lượng của hoạt động bán bảo hiểm qua ngân hàng.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động bán bảo hiểm qua ngân hàng khá toàn diện và phù hợp với tình hình thị trường bảo hiểm trong thời gian vừa qua, cũng như đảm bảo phát triển ổn định trong thời gian tới.

Khung khổ pháp lý này đã tạo điều kiện nền tảng để thị trường bảo hiểm nhân thọ hoạt động một cách minh bạch, lành mạnh và bền vững, đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm cũng như tiếp cận, đáp ứng những chuẩn mực quốc tế về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

ÔNG NGUYỄN HỒNG SƠN - TỔNG GIÁM ĐỐC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ CHUBB VIỆT NAM: Thay đổi để khẳng định lại giá trị đúng của bảo hiểm nhân thọ

Kỳ vọng thị trường bảo hiểm sớm lấy lại tăng trưởng dương

Hiện các DNBH đều đang có những thay đổi, điều chỉnh, nhằm khẳng định lại giá trị đúng của bảo hiểm nhân thọ. Dù giải pháp cụ thể có khác nhau, nhưng nhìn chung thì các DNBH đều đang tập trung cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cũng như phát triển đội ngũ chất lượng.

Riêng tại Chubb Life cũng đang cải tiến theo hướng ngắn gọn và dễ hiểu, có các bản tóm tắt quy tắc và điều khoản bên cạnh quy tắc và điều khoản sản phẩm đầy đủ. Chúng tôi tập trung lấy lợi ích của khách hàng là kim chỉ nam, thông qua các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các giải pháp về sản phẩm.

Cùng đó, đầu tư mạnh mẽ vào nền tảng công nghệ nhằm tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao trải nghiệm khách hàng; đồng thời, không ngừng phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng.

Duy Thái

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Nhiều năm qua, Prudential Việt Nam liên tục được ghi nhận là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, thể hiện rõ cam kết tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC thông qua kế hoạch doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 780 tỷ đồng năm 2026; đồng thời, chấp thuận chủ trương mở rộng sang bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm tử kỳ và dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Lãnh đạo BIC cho biết, Tổng công ty đang xây dựng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ gắn với tín dụng khách hàng và kỳ vọng có kết quả từ năm 2027.
Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18492 18768 19347
CAD 18741 19019 19635
CHF 33163 33549 34194
CNY 0 3827 3919
EUR 30325 30599 31627
GBP 35003 35397 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15373 15963
SGD 20207 20491 21014
THB 732 795 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80