Lãi suất giảm 0,6%/năm, mở van tín dụng tạo lực đẩy cho nền kinh tế

Ánh Tuyết
Tính đến ngày 18/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,28 triệu tỷ đồng, tăng 4,27% so với cuối năm 2024, nhiều gói hỗ trợ trị giá hàng trăm nghìn tỷ đồng được kích hoạt. Trong khi tín dụng được đẩy mạnh, lãi suất cho vay bình quân giảm 0,6%/năm, hỗ trợ tích cực cho phục hồi và tăng trưởng kinh tế.
aa
Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ Nhiều ngân hàng vào cuộc, kích tín dụng ưu đãi ngành nông, lâm, thuỷ sản lên 100 nghìn tỷ đồng

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2025 tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2025 được tổ chức ngày 6/5, trong những tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục điều hành tín dụng một cách chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Nhiều gói hỗ trợ được kích hoạt, ngân hàng "kéo" vốn về lĩnh vực ưu tiên

Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng tín dụng theo định hướng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong năm 2025, NHNN xây dựng kế hoạch và tổ chức các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại 15 khu vực trong tháng 3 và tháng 4/2025 nhằm nắm bắt, bám sát tình hình thực tế tại các địa phương, kịp thời đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn và vướng mắc phát sinh.

Cùng với đó, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Lãi suất giảm 0,6%/năm, mở van tín dụng tạo lực đẩy cho nền kinh tế
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2025. Ảnh: VGP.

Tín dụng bứt tốc gấp gần 3 lần cùng kỳ, tăng 4,27%

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2025, tính đến ngày 18/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 16,28 triệu tỷ đồng, tăng 4,27% so với cuối năm 2024 và tăng 18,25% so với cùng kỳ năm trước (trong khi cùng kỳ năm 2024, dư nợ tín dụng chỉ tăng 1,48% so với tháng 12/2023).

Về chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại tham gia chương trình cho vay theo Nghị quyết số 33/NQ-CP. Lãi suất cho vay hỗ trợ hiện đang được áp dụng là 6,6%/năm với chủ đầu tư và 6,1%/năm với người mua nhà, áp dụng từ ngày 01/01 - 30/6/2025, giảm 0,4% so với kỳ công bố 6 tháng trước.

"Tính đến cuối tháng 3/2025, các ngân hàng thương mại giải ngân tổng cộng 3.652 tỷ đồng, bao gồm: 3.109,3 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 22 dự án và 542,7 tỷ đồng cho người mua nhà tại 21 dự án" - báo cáo nêu rõ.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 05/CT-TT ngày 01/3/2025 về việc cho phép người trẻ dưới 35 tuổi được vay mua nhà ở xã hội, NHNN ban hành Văn bản số 1565/NHNN-TD ngày 05/3/2025, đề nghị các ngân hàng thương mại đăng ký tham gia chương trình cho vay đối với nhóm đối tượng này.

Về chương trình tín dụng hỗ trợ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, NHNN ban hành Công văn số 1595/NHNN-TD ngày 05/3/2025 chỉ đạo triển khai mạnh mẽ chương trình này.

"Ngoài Agribank là ngân hàng chủ lực với nguồn vốn không giới hạn, còn có 6 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia giai đoạn thí điểm (đến hết năm 2025) với tổng quy mô vốn khoảng 16.300 tỷ đồng" - báo cáo nêu.

Về chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản và thủy sản, NHNN ban hành Văn bản số 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 chỉ đạo các ngân hàng thương mại mở rộng phạm vi và đối tượng của chương trình. Chương trình sẽ triển khai cho đến khi doanh số cho vay đạt 100.000 tỷ đồng.

Về chương trình tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và công nghệ số, bám sát chủ trương của Chính phủ về giao NHNN xây dựng gói tín dụng ưu đãi trị giá khoảng 500.000 tỷ đồng, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng và công nghệ số, NHNN tổ chức các cuộc họp với các ngân hàng thương mại để trao đổi và thống nhất hướng triển khai chương trình này.

Tiếp đà hạ nhiệt lãi suất cho vay

Về điều hành lãi suất, trong tháng 4/2025, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó hỗ trợ nền kinh tế.

Lãi suất giảm 0,6%/năm, mở van tín dụng tạo lực đẩy cho nền kinh tế
Lãi suất giảm 0,6%/năm, mở van tín dụng tạo lực đẩy cho nền kinh tế. Ảnh tư liệu.

Lãi suất cho vay mới bình quân giảm còn 6,34%/năm

Tính đến ngày 10/4, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,34%/năm, giảm 0,6%/năm so với cuối năm 2024.

Đồng thời, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu giảm lãi suất cho vay; tổ chức các buổi làm việc trực tiếp và ban hành công văn chỉ đạo toàn hệ thống duy trì ổn định lãi suất tiền gửi, tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế.

NHNN cũng điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường để điều tiết tiền tệ, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ.

Theo đó, NHNN thực hiện chào mua có kỳ hạn giấy tờ có giá hàng ngày qua nghiệp vụ thị trường mở với khối lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức tín dụng, đa dạng hóa và kéo dài kỳ hạn chào mua lên đến 91 ngày để hỗ trợ nguồn dài hạn hơn cho hệ thống.

Bên cạnh đó, NHNN liên tục giảm dần lãi suất phát hành tín phiếu NHNN và dừng phát hành tín phiếu NHNN. Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm và đến ngày 16/4/2025 ở mức: qua đêm 4,03%/năm, 1 tuần 4,27%/năm, 2 tuần 4,37%/năm, 1 tháng 4,41%/năm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 144,200
Hà Nội - PNJ 140,500 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,500 144,200
Miền Tây - PNJ 140,500 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,500 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 14,500
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 14,410
Trang sức 99.99 13,820 14,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17870 18144 18728
CAD 18169 18445 19061
CHF 31419 31798 32446
CNY 0 3830 3940
EUR 29423 29644 30724
GBP 34401 34792 35743
HKD 0 3190 3392
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14955 15548
SGD 19826 20108 20680
THB 703 766 820
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,910 25,910 26,290
USD(1-2-5) 24,874 - -
USD(10-20) 24,874 - -
EUR 29,511 29,535 30,935
JPY 159.29 159.58 169.21
GBP 34,617 34,711 35,909
AUD 18,076 18,141 18,831
CAD 18,382 18,441 19,122
CHF 31,719 31,818 32,753
SGD 19,957 20,019 20,804
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,258 3,268 3,405
KRW 16.98 17.71 19.26
THB 752.02 761.31 815.11
NZD 14,961 15,100 15,549
SEK - 2,688 2,783
DKK - 3,958 4,098
NOK - 2,702 2,797
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,964.79 - 6,733.82
TWD 731.22 - 885.85
SAR - 6,832.18 7,196.76
KWD - 82,662 87,954
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,900 26,280
EUR 29,548 29,667 30,859
GBP 34,628 34,767 35,799
HKD 3,257 3,270 3,386
CHF 31,553 31,680 32,600
JPY 159.74 160.38 168.25
AUD 18,070 18,143 18,739
SGD 20,027 20,107 20,702
THB 769 772 808
CAD 18,391 18,465 19,054
NZD 15,052 15,596
KRW 17.60 19.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26240
AUD 18051 18151 19076
CAD 18341 18441 19455
CHF 31661 31691 33269
CNY 3803.3 3828.3 3963.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29605 29635 31357
GBP 34700 34750 36508
HKD 0 3355 0
JPY 160.22 160.72 171.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19977 20107 20829
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 13/08/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80