Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng nhập cuộc tung ra các gói vay ưu đãi mua nhà cho người trẻ, với lãi suất ban đầu rất hấp dẫn, thậm chí lãi vay xuống đáy chỉ từ 0%. Tuy nhiên, những gói vay ưu đãi chớp nhoáng, chỉ áp dụng trong thời gian siêu ngắn khó "kích" được thị trường và giúp người trẻ an cư để lạc nghiệp khi giá nhà vẫn leo thang.
aa
Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ
Ảnh tư liệu

Từ giữa tháng 02/2025, sau vài ngày lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo về gói tín dụng ưu đãi cho cả cung và cầu phát triển nhà ở cho người trẻ dưới 35 tuổi tại hội nghị đầu năm, nhiều ngân hàng thương mại nhanh chóng hưởng ứng bằng cách tung ra hàng loạt gói tín dụng ưu đãi lãi suất được thiết kế riêng cho người trẻ có nhu cầu vay vốn mua nhà ở thương mại hoặc nhà ở xã hội.

Thực hư gói vay siêu ưu đãi

Ngân hàng ACB tiên phong thực hiện chỉ đạo này khi ra mắt gói vay “Ngôi nhà đầu tiên”, hướng đến khách hàng dưới 35 tuổi, với lãi suất ưu đãi từ 5,5%/năm và cố định trong 5 năm đầu. Khách hàng có thể vay tới 30 năm và linh hoạt trong việc trả nợ, với khoản thanh toán ban đầu thấp và tăng dần theo thu nhập trong tương lai.

Ngay sau đó, một ngân hàng tham gia cuộc đua với gói tín dụng quy mô 16.000 tỷ đồng, áp dụng mức lãi suất từ 3,99%/năm, khoản vay có thể kéo dài tối đa 35 năm và miễn trả gốc 5 năm đầu.

Gói vay ưu đãi lãi suất khác cũng được một ngân hàng thiết kế dành riêng cho nhóm khách hàng trẻ chỉ từ 5,2%/năm, có thể vay tối đa tới 80% giá trị căn nhà, thời gian vay lên tới 25 năm.

Gây hiểu lầm cho người đi vay

Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ

Lãi suất ưu đãi mà các ngân hàng chào mời mang tính tiếp thị, tạo sự hấp dẫn. Chỉ sau một thời gian ngắn khi ưu đãi không còn hiệu lực thì lãi suất sẽ được áp dụng theo công thức lãi suất huy động bình quân cộng với biên độ 3 - 5%, một loại lãi suất thả nổi. Việc các ngân hàng mời chào thế này không vi phạm pháp luật, nhưng tạo sự hiểu lầm cho người đi vay, khi người đi vay cho đây là lãi suất ưu đãi mà không hiểu rằng đó là thủ thuật bán hàng. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Một ngân hàng khác cũng công bố gói tín dụng ưu đãi trị giá 3.000 tỷ đồng, với mức lãi suất chỉ từ 0%, hướng đến các khách hàng cá nhân, đặc biệt là người trẻ dưới 35 tuổi, nhằm hỗ trợ tài chính cho việc mua nhà, tiêu dùng và phát triển kinh doanh.

Các chương trình này thường được quảng bá với lãi suất ban đầu rất hấp dẫn: 3,99%; 5,2%; 5,5%, thấp hơn cả lãi suất huy động, thậm chí có nơi cho vay với lãi suất chạm đáy chỉ từ 0%, kèm theo những điều kiện tạo sức hút với khách hàng mới, đặc biệt là người trẻ có nhu cầu vay mua nhà lần đầu.

Trước những lời giới thiệu đầy hấp dẫn đó, phóng viên TBTCVN liên hệ một số ngân hàng và được cho biết những mức lãi suất thấp này áp dụng trong thời gian ngắn, có thể chỉ 1 - 6 tháng đầu tiên. Các gói vay kể trên đều chung đặc điểm sau khi kết thúc thời gian ưu đãi siêu ngắn, lãi suất sẽ tính theo lãi suất cơ sở cộng với biên độ, thường dựa vào lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 - 36 tháng cộng thêm 3,5 - 4,5%.

Các ngân hàng thường điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần, mức thả nổi dao động trên 10%/năm, có thể lên đến 12 - 13%/năm. "Nước nổi thì bèo nổi", khi lãi suất thị trường tăng, lãi suất cho vay cũng tăng theo khiến áp lực tài chính với các gia đình trẻ có thể cao hơn dự kiến.

Chính vì vậy, nhiều nhân viên ngân hàng khuyên khách hàng không nên vay gói này bởi thời gian ưu đãi siêu ngắn, thay vào đó, chào mời các gói khác đang triển khai, với lãi suất cao hơn nhưng thời gian cố định lãi suất kéo dài.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, nhân viên tín dụng của một ngân hàng cho biết, lãi suất cho vay 0% chỉ áp dụng duy nhất trong tháng đầu tiên, áp dụng vay tối thiểu trên 11 tháng. Sau thời gian ưu đãi, lãi suất sẽ thả nổi ngay lập tức, lên trên 10%/năm. Một gói ưu đãi khác là ưu đãi lãi suất 5,9% trong 3 tháng đầu, sau đó dao động trên 10%/năm.

Theo nhẩm tính, khách hàng vay 1 tỷ đồng trong vòng 10 năm, được miễn lãi tháng đầu tiên tương ứng trên 8 triệu đồng, chỉ phải trả gốc nhưng "còng lưng" gánh lãi thả nổi ngay tháng thứ hai.

Nhân viên này khuyên khách hàng không nên vay gói lãi suất 0%, bởi gói này chỉ thích hợp với khách hàng vay ngắn, có dòng tiền tốt để tận dụng lãi suất 0% trong tháng đầu. Thay vào đó, khách hàng nên lựa chọn gói vay dài hạn khác đang triển khai, với lãi suất cố định 8,8% trong 18 tháng đầu, được ân hạn gốc, chỉ cần trả lãi cho ngân hàng, bởi thời gian ưu đãi kéo dài nên giúp giảm áp lực tài chính ban đầu.

Tại một ngân hàng khác, nhân viên ngân hàng còn không nắm được thông tin gói vay ưu đãi đang triển khai mà phải hỏi hội sở. Sau khi nắm được thông tin, nhân viên này cho biết, ưu đãi lãi suất từ 5,2% áp dụng trong thời gian 3 tháng, sau đó cộng biên độ lãi suất 3,5% và hầu như ngân hàng nào cũng đều triển khai như vậy.

Giảm lãi suất khó vẫn "kích" người trẻ vay mua nhà

Theo các chuyên gia, khi vay ngân hàng mua nhà, người trẻ nên chọn gói vay có thời gian ưu đãi lãi suất dài nhất và xem xét kỹ biên độ lãi suất sau ưu đãi để tránh rơi vào "bẫy" lãi suất thả nổi cao gây áp lực kép về tài chính, vừa mua nhà giá cao, vừa gánh lãi suất vay tăng không kiểm soát.

Dù có ban hành nhiều chính sách ưu đãi lãi suất song người trẻ chưa mặn mà mua nhà, nguyên nhân chính bởi giá bất động sản bị đẩy lên quá cao so với thu nhập thực tế, thị trường bất động sản hiện rơi vào vòng luẩn quẩn mua đi bán lại, chuyền tay nhau "hòn than nóng" giữa các nhà đầu cơ, môi giới, khiến người mua có nhu cầu ở thật khó tiếp cận.

Chia sẻ gần đây, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế Trưởng BIDV, room tín dụng không phải là vấn đề đáng lo ngại, lãi suất cũng đang duy trì ở mức hấp dẫn, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn vay. Tuy nhiên, điều tồn tại là giá bất động sản ở Việt Nam đang ở mức cao, tương đương 23,7 năm thu nhập bình quân hộ gia đình.

Con số này cao hơn bình quân thế giới (14,6 năm); Singapore (14,9 năm); Malaysia (8,5 năm); Hàn Quốc (19,9 năm); Nhật Bản (10 năm). Dựa trên số năm tích luỹ thu nhập để mua nhà, Việt Nam đứng thứ 11/100 quốc gia được xếp hạng, giảm 4 bậc, tức năm 2024 mức độ khó tiếp cận tăng so với năm 2023.

Bắt bệnh khiến giá nhà ở tăng cao bất thường

Chỉ rõ 6 nguyên nhân chính khiến giá nhà ở Việt Nam tiếp tục tăng cao, theo TS. Cấn Văn Lực, một là do vướng mắc pháp lý và tâm lý sợ trách nhiệm khiến nguồn cung bất động sản khan hiếm. Hai là, chi phí đầu vào gia tăng do nhiều yếu tố như: tiền thuê đất/sử dụng đất, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí tài chính, giá vật liệu xây dựng...

Ba là, mất cân đối cung - cầu. "Việc cấp phép dự án mới ít, do đó, doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào phân khúc nhà ở cao cấp khiến mặt bằng giá bình quân bị đẩy lên cao. Trong khi đó, nguồn cung nhà ở trung cấp và vừa túi tiền, bao gồm cả nhà ở xã hội lại đang thiếu hụt" - ông Lực nêu rõ bất cập.

Bốn là, hiện tượng "thổi giá", "làm giá", "té nước theo mưa", tình trạng thao túng thị trường vẫn diễn ra, dẫn đến giá bất động sản neo cao so với giá trị thực. Các vụ đấu giá đất, cò môi giới lộng hành rao bán nhà ở xã hội thời gian qua là minh chứng. Năm là, hoạt động đầu cơ vẫn phổ biến. Theo khảo sát của batdongsan.com.vn trên 600 người năm 2024, có tới 86% nhà đầu tư nắm giữ bất động sản dưới 1 năm, cho thấy tâm lý đầu cơ lớn.

Sáu là, Việt Nam hiện chưa áp dụng thuế bất động sản, trong khi thuế chuyển nhượng và cho thuê bất động sản vẫn ở mức thấp, dẫn đến tình trạng đầu cơ tràn lan.

Dù tín dụng đang dồi dào và lãi suất duy trì hấp dẫn nhưng giá nhà vẫn khó hạ nhiệt khi các vấn đề về nguồn cung, nạn đầu cơ cùng các chính sách chưa được giải quyết triệt để.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80