Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng nhập cuộc tung ra các gói vay ưu đãi mua nhà cho người trẻ, với lãi suất ban đầu rất hấp dẫn, thậm chí lãi vay xuống đáy chỉ từ 0%. Tuy nhiên, những gói vay ưu đãi chớp nhoáng, chỉ áp dụng trong thời gian siêu ngắn khó "kích" được thị trường và giúp người trẻ an cư để lạc nghiệp khi giá nhà vẫn leo thang.
aa
Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ
Ảnh tư liệu

Từ giữa tháng 02/2025, sau vài ngày lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo về gói tín dụng ưu đãi cho cả cung và cầu phát triển nhà ở cho người trẻ dưới 35 tuổi tại hội nghị đầu năm, nhiều ngân hàng thương mại nhanh chóng hưởng ứng bằng cách tung ra hàng loạt gói tín dụng ưu đãi lãi suất được thiết kế riêng cho người trẻ có nhu cầu vay vốn mua nhà ở thương mại hoặc nhà ở xã hội.

Thực hư gói vay siêu ưu đãi

Ngân hàng ACB tiên phong thực hiện chỉ đạo này khi ra mắt gói vay “Ngôi nhà đầu tiên”, hướng đến khách hàng dưới 35 tuổi, với lãi suất ưu đãi từ 5,5%/năm và cố định trong 5 năm đầu. Khách hàng có thể vay tới 30 năm và linh hoạt trong việc trả nợ, với khoản thanh toán ban đầu thấp và tăng dần theo thu nhập trong tương lai.

Ngay sau đó, một ngân hàng tham gia cuộc đua với gói tín dụng quy mô 16.000 tỷ đồng, áp dụng mức lãi suất từ 3,99%/năm, khoản vay có thể kéo dài tối đa 35 năm và miễn trả gốc 5 năm đầu.

Gói vay ưu đãi lãi suất khác cũng được một ngân hàng thiết kế dành riêng cho nhóm khách hàng trẻ chỉ từ 5,2%/năm, có thể vay tối đa tới 80% giá trị căn nhà, thời gian vay lên tới 25 năm.

Gây hiểu lầm cho người đi vay

Đằng sau những gói vay mua nhà siêu ưu đãi cho người trẻ

Lãi suất ưu đãi mà các ngân hàng chào mời mang tính tiếp thị, tạo sự hấp dẫn. Chỉ sau một thời gian ngắn khi ưu đãi không còn hiệu lực thì lãi suất sẽ được áp dụng theo công thức lãi suất huy động bình quân cộng với biên độ 3 - 5%, một loại lãi suất thả nổi. Việc các ngân hàng mời chào thế này không vi phạm pháp luật, nhưng tạo sự hiểu lầm cho người đi vay, khi người đi vay cho đây là lãi suất ưu đãi mà không hiểu rằng đó là thủ thuật bán hàng. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Một ngân hàng khác cũng công bố gói tín dụng ưu đãi trị giá 3.000 tỷ đồng, với mức lãi suất chỉ từ 0%, hướng đến các khách hàng cá nhân, đặc biệt là người trẻ dưới 35 tuổi, nhằm hỗ trợ tài chính cho việc mua nhà, tiêu dùng và phát triển kinh doanh.

Các chương trình này thường được quảng bá với lãi suất ban đầu rất hấp dẫn: 3,99%; 5,2%; 5,5%, thấp hơn cả lãi suất huy động, thậm chí có nơi cho vay với lãi suất chạm đáy chỉ từ 0%, kèm theo những điều kiện tạo sức hút với khách hàng mới, đặc biệt là người trẻ có nhu cầu vay mua nhà lần đầu.

Trước những lời giới thiệu đầy hấp dẫn đó, phóng viên TBTCVN liên hệ một số ngân hàng và được cho biết những mức lãi suất thấp này áp dụng trong thời gian ngắn, có thể chỉ 1 - 6 tháng đầu tiên. Các gói vay kể trên đều chung đặc điểm sau khi kết thúc thời gian ưu đãi siêu ngắn, lãi suất sẽ tính theo lãi suất cơ sở cộng với biên độ, thường dựa vào lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 - 36 tháng cộng thêm 3,5 - 4,5%.

Các ngân hàng thường điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần, mức thả nổi dao động trên 10%/năm, có thể lên đến 12 - 13%/năm. "Nước nổi thì bèo nổi", khi lãi suất thị trường tăng, lãi suất cho vay cũng tăng theo khiến áp lực tài chính với các gia đình trẻ có thể cao hơn dự kiến.

Chính vì vậy, nhiều nhân viên ngân hàng khuyên khách hàng không nên vay gói này bởi thời gian ưu đãi siêu ngắn, thay vào đó, chào mời các gói khác đang triển khai, với lãi suất cao hơn nhưng thời gian cố định lãi suất kéo dài.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, nhân viên tín dụng của một ngân hàng cho biết, lãi suất cho vay 0% chỉ áp dụng duy nhất trong tháng đầu tiên, áp dụng vay tối thiểu trên 11 tháng. Sau thời gian ưu đãi, lãi suất sẽ thả nổi ngay lập tức, lên trên 10%/năm. Một gói ưu đãi khác là ưu đãi lãi suất 5,9% trong 3 tháng đầu, sau đó dao động trên 10%/năm.

Theo nhẩm tính, khách hàng vay 1 tỷ đồng trong vòng 10 năm, được miễn lãi tháng đầu tiên tương ứng trên 8 triệu đồng, chỉ phải trả gốc nhưng "còng lưng" gánh lãi thả nổi ngay tháng thứ hai.

Nhân viên này khuyên khách hàng không nên vay gói lãi suất 0%, bởi gói này chỉ thích hợp với khách hàng vay ngắn, có dòng tiền tốt để tận dụng lãi suất 0% trong tháng đầu. Thay vào đó, khách hàng nên lựa chọn gói vay dài hạn khác đang triển khai, với lãi suất cố định 8,8% trong 18 tháng đầu, được ân hạn gốc, chỉ cần trả lãi cho ngân hàng, bởi thời gian ưu đãi kéo dài nên giúp giảm áp lực tài chính ban đầu.

Tại một ngân hàng khác, nhân viên ngân hàng còn không nắm được thông tin gói vay ưu đãi đang triển khai mà phải hỏi hội sở. Sau khi nắm được thông tin, nhân viên này cho biết, ưu đãi lãi suất từ 5,2% áp dụng trong thời gian 3 tháng, sau đó cộng biên độ lãi suất 3,5% và hầu như ngân hàng nào cũng đều triển khai như vậy.

Giảm lãi suất khó vẫn "kích" người trẻ vay mua nhà

Theo các chuyên gia, khi vay ngân hàng mua nhà, người trẻ nên chọn gói vay có thời gian ưu đãi lãi suất dài nhất và xem xét kỹ biên độ lãi suất sau ưu đãi để tránh rơi vào "bẫy" lãi suất thả nổi cao gây áp lực kép về tài chính, vừa mua nhà giá cao, vừa gánh lãi suất vay tăng không kiểm soát.

Dù có ban hành nhiều chính sách ưu đãi lãi suất song người trẻ chưa mặn mà mua nhà, nguyên nhân chính bởi giá bất động sản bị đẩy lên quá cao so với thu nhập thực tế, thị trường bất động sản hiện rơi vào vòng luẩn quẩn mua đi bán lại, chuyền tay nhau "hòn than nóng" giữa các nhà đầu cơ, môi giới, khiến người mua có nhu cầu ở thật khó tiếp cận.

Chia sẻ gần đây, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế Trưởng BIDV, room tín dụng không phải là vấn đề đáng lo ngại, lãi suất cũng đang duy trì ở mức hấp dẫn, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn vay. Tuy nhiên, điều tồn tại là giá bất động sản ở Việt Nam đang ở mức cao, tương đương 23,7 năm thu nhập bình quân hộ gia đình.

Con số này cao hơn bình quân thế giới (14,6 năm); Singapore (14,9 năm); Malaysia (8,5 năm); Hàn Quốc (19,9 năm); Nhật Bản (10 năm). Dựa trên số năm tích luỹ thu nhập để mua nhà, Việt Nam đứng thứ 11/100 quốc gia được xếp hạng, giảm 4 bậc, tức năm 2024 mức độ khó tiếp cận tăng so với năm 2023.

Bắt bệnh khiến giá nhà ở tăng cao bất thường

Chỉ rõ 6 nguyên nhân chính khiến giá nhà ở Việt Nam tiếp tục tăng cao, theo TS. Cấn Văn Lực, một là do vướng mắc pháp lý và tâm lý sợ trách nhiệm khiến nguồn cung bất động sản khan hiếm. Hai là, chi phí đầu vào gia tăng do nhiều yếu tố như: tiền thuê đất/sử dụng đất, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí tài chính, giá vật liệu xây dựng...

Ba là, mất cân đối cung - cầu. "Việc cấp phép dự án mới ít, do đó, doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào phân khúc nhà ở cao cấp khiến mặt bằng giá bình quân bị đẩy lên cao. Trong khi đó, nguồn cung nhà ở trung cấp và vừa túi tiền, bao gồm cả nhà ở xã hội lại đang thiếu hụt" - ông Lực nêu rõ bất cập.

Bốn là, hiện tượng "thổi giá", "làm giá", "té nước theo mưa", tình trạng thao túng thị trường vẫn diễn ra, dẫn đến giá bất động sản neo cao so với giá trị thực. Các vụ đấu giá đất, cò môi giới lộng hành rao bán nhà ở xã hội thời gian qua là minh chứng. Năm là, hoạt động đầu cơ vẫn phổ biến. Theo khảo sát của batdongsan.com.vn trên 600 người năm 2024, có tới 86% nhà đầu tư nắm giữ bất động sản dưới 1 năm, cho thấy tâm lý đầu cơ lớn.

Sáu là, Việt Nam hiện chưa áp dụng thuế bất động sản, trong khi thuế chuyển nhượng và cho thuê bất động sản vẫn ở mức thấp, dẫn đến tình trạng đầu cơ tràn lan.

Dù tín dụng đang dồi dào và lãi suất duy trì hấp dẫn nhưng giá nhà vẫn khó hạ nhiệt khi các vấn đề về nguồn cung, nạn đầu cơ cùng các chính sách chưa được giải quyết triệt để.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80