Mô hình VAMC sẽ không thể kéo dài mãi

Hoàng Yến
(TBTCO) - Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, mô hình VAMC không thể kéo dài mãi và sẽ không xây dựng luật riêng về xử lý nợ xấu, bởi Nghị quyết 42 tương tự như luật để xử lý nợ xấu trong tình huống khẩn cấp. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu cần được đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng.
aa
Kéo dài thí điểm xử lý nợ xấu: Khó khăn đã được “thông” dần, nhưng chưa hẳn hết gian nan Đề xuất kéo dài cơ chế xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 thêm 2 năm 10 tháng, VAMC mới đạt 38,44% kế hoạch mua nợ theo giá thị trường 2021 Nợ xấu cuối 2021 là 1,9%, nhưng tính cả nợ xấu tiềm ẩn là 3,79%

Nên đưa nội dung về xử nợ xấu vào Luật Các tổ chức tín dụng

Tại phiên họp sáng 14/4, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã đóng góp nhiều ý kiến về nội dung báo cáo của Chính phủ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Các ý kiến nhiều chiều xoay quanh các vấn đề: Kết quả thực chất của việc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42? Có nên kéo dài thời hạn thực hiện Nghị quyết 42 trong 2 năm? Nên hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu theo hướng xây dựng luật riêng hay tổng kết, đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng?...

Trưởng ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh đồng tình về việc kéo dài thời hạn áp dụng cho toàn bộ Nghị quyết 42, bởi hiện nay ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid có thể dẫn đến khả năng tỷ lệ nợ xấu lại tiếp tục tăng, có nguy cơ ảnh hưởng toàn bộ kết quả đã đạt được của Nghị quyết 42. Do vậy, cần có một hành lang pháp lý đặc thù để tiếp tục xử lý nợ xấu trong thời gian tới.

Trưởng Ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh
Trưởng ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh

Về hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu bằng luật, Trưởng ban Công tác đại biểu cho rằng nên dành một chương trong Luật Các tổ chức tín dụng về nội dung này, thay vì xây dựng một luật mới.

Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Thanh cũng lưu ý làm rõ việc xử lý vi phạm ở một số tập đoàn rất lớn hiện nay có ảnh hưởng thế nào đến tình hình nợ xấu và các ngân hàng. Cho rằng đây là vấn đề rất nhạy cảm, Trưởng ban Công tác đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đánh giá và có phương án ứng xử phù hợp nhằm ổn định thị trường, tạo tâm lý niềm tin cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp gần đây, liên quan đến hai tập đoàn FLC và Tân Hoàng Minh.

Còn theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - ngân sách Nguyễn Phú Cường, những khoản nợ xấu thời gian qua đã được xử lý, thu hồi thì những khoản nợ đó “tuy xấu nhưng chưa xấu”. Còn lại những khoản nợ mà đến nay vẫn chưa thu hồi được thì là “quá xấu”, dù có luật đi nữa cũng không thể thu hồi được. Với những khoản nợ này, dù Chính phủ đề nghị kéo dài thời gian áp dụng Nghị quyết 42 mà không thay đổi cách thức, nội dung thì rất khó xử lý. Bởi “phần dễ mình đã xử lý, phần khó đến giờ này rất khó xử lý”.

Lãi dự thu còn xấu hơn cả nợ xấu

Ủng hộ việc kéo dài thêm thời gian thực hiện Nghị quyết 42, song Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà nêu ý kiến tại phiên họp cũng cho rằng, cần phải chỉnh sửa một số nội dung để tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn và đảm bảo tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính, Nghị quyết 42 là một cơ chế rất đặc thù của Việt Nam và được Quốc hội cho phép để xử lý nợ xấu, nợ tồn đọng từ thời điểm ngày 15/8/2017 trở về trước. Tuy nhiên, nợ xấu của các tổ chức tín dụng luôn gắn với quá trình cho vay, thu nợ và thực hiện các nghiệp vụ tín dụng. Các nước khác cũng có phát sinh nợ xấu, các khoản nợ xấu này phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và phải đưa vào trong nội dung của Luật Các tổ chức tín dụng để có cơ sở pháp lý để xử lý.

Bản thân các khoản nợ xấu đang trong quá trình xử lý từ khi ban hành và triển khai nghị quyết đến nay cũng đã phát sinh thêm về nghĩa vụ nợ, vẫn phải hạch toán lãi dự thu. Các nghĩa vụ nợ đang tiếp tục tăng lên theo thời gian nếu chúng ta chưa xử lý dứt điểm. Do đó, Thứ trưởng Trần Xuân Hà đề nghị Ngân hàng Nhà nước phân tích thêm về những khoản phát sinh của bản thân các khoản nợ xấu này từ thời gian đó đến nay và các khoản nợ mới phát sinh sau này thì không nên đưa vào trong phạm vi điều chỉnh của nghị quyết, mà phải xử lý bằng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, theo cơ chế pháp lý lâu dài để xử lý nợ xấu.

Nêu một loạt con số từ báo cáo kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thẳng thắn nhận định, với mức xử lý nợ xấu đạt tỷ lệ hơn 17% tổng số nợ xấu được xác định thì đây là kết quả rất hạn chế.

Để đánh giá rõ hơn kết quả xử lý nợ xấu thời gian qua, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải làm rõ tổng số nợ xấu theo phạm vi Nghị quyết 42, số nợ gốc, số xử lý được, số nợ mà lúc đầu chưa xấu, sau này lại xấu… Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh phải làm rõ cơ cấu nợ, tỷ trọng nợ bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng, nợ liên quan trái phiếu doanh nghiệp, hay lãi dự thu… “Lãi dự thu của nợ xấu còn xấu hơn cả nợ xấu”, Chủ tịch Quốc hội nói và chỉ ra nợ xấu còn có tài sản đảm bảo, còn lãi dự thu thì không. Bản thân nợ gốc còn không được thu được, thì lãi dự thu còn khó thu hơn.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ

Kéo dài cơ chế thí điểm xử lý nợ xấu đến hết năm 2023

Ngoài ra, Chủ tịch Quốc hội lưu ý cần làm rõ tác động của dịch bệnh Covid-19, tránh “cái gì cũng đổ cho Covid”. Từ đó mới nói đến nguyên nhân khách quan, chủ quan, cái gì do Nghị quyết 42, cái gì do khâu tổ chức thực hiện. Theo Chủ tịch Quốc hội, hai vấn đề vướng mắc chính được nêu tại báo cáo là do khâu tổ chức thực hiện.

Đối với đề xuất kéo dài thời hạn thực hiện Nghị quyết 42, Chủ tịch Quốc hội cho rằng nếu kéo dài thì chỉ tối đa đến năm 2023, cùng thời hạn với Nghị quyết 43 của Quốc hội về các gói hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, Chính phủ phải tính ngay định hướng để hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc xử lý nợ xấu.

Khẳng định không thể có luật mới tiếp theo về xử lý nợ xấu, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ Nghị quyết 42 chính là luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam. Luật này khác với quy định thông thường và có giá trị tương tự như luật về xử lý nợ xấu trong tình huống khẩn cấp thời kỳ khủng hoảng ở các nước. Do đó, sẽ không bàn về việc xây dựng luật riêng về xử lý nợ xấu. Cùng với đó, Chủ tịch Quốc hội lưu ý, VAMC (Công ty TNHH Một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) cũng chỉ tồn tại đến một lúc nào đó là chấm dứt, không thể kéo dài mãi.

Kết luận phiên họp, các thành viên UBTVQH thống nhất bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 đối với nghị quyết kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết 42 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Theo đó, kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42 đến ngày 31/12/2023, không mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi, đối tượng áp dụng so với Nghị quyết 42.

UBTVQH đề nghị Chính phủ tiếp thu các ý kiến tham gia chỉnh lý, hoàn thiện báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 42 của Quốc hội và hồ sơ đề xuất kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết 42 gửi Quốc hội và các cơ quan thẩm tra.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

(TBTCO) - BIDV dự kiến chi hơn 3.276 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 4,5%, tương ứng 450 đồng/cổ phiếu. Tính đến cuối quý I/2026, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của ngân hàng đạt 51.588 tỷ đồng. Song song với đó, BIDV triển khai các kế hoạch tăng vốn, hướng tới quy mô vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
Huy động vốn cấp thiết hơn tăng trưởng tín dụng, NIM chờ dư địa phục hồi

Huy động vốn cấp thiết hơn tăng trưởng tín dụng, NIM chờ dư địa phục hồi

(TBTCO) - Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, bài toán huy động vốn trở nên cấp thiết hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng, khi tỷ lệ LDR của hệ thống duy trì trên 110%. Mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại 6 tháng cuối năm, thanh khoản dần cải thiện, giúp NIM có thể tăng nhẹ ở một nhóm ngân hàng tư nhân và quốc doanh.
Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

Nới trần SMLR, "cơi nới" room tín dụng giữa lúc huy động chậm khiến thanh khoản thêm áp lực

(TBTCO) - Việc nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% và miễn trừ một số khoản cho vay dự án hạ tầng trọng điểm khỏi room được kỳ vọng thúc đẩy tín dụng, nhất là dự án hạ tầng và bất động sản. Tuy nhiên, VIS Rating lưu ý, động thái này làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn, rủi ro thanh khoản hệ thống và tạo áp lực huy động nhiều ngân hàng.
"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼150K 13,500 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼150K 13,450 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼150K 14,200 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼150K 14,150 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼150K 14,130 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Hà Nội - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Đà Nẵng - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Miền Tây - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Tây Nguyên - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,200 ▼1300K 148,200 ▼1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▼150K 14,850 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▼100K 14,800 ▼150K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,990 ▼150K 14,690 ▼150K
Trang sức 99.99 14,000 ▼150K 14,700 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1308K 14,852 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1308K 14,853 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 ▼15K 1,482 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 ▼15K 1,483 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 ▼15K 1,462 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,752 ▼1486K 144,752 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,011 ▼1425K 109,811 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,776 ▼1320K 99,576 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,541 ▼1215K 89,341 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,593 ▼1175K 85,393 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,321 ▼926K 61,121 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1308K 1,485 ▲1335K
Cập nhật: 08/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17656 17929 18508
CAD 18036 18311 18930
CHF 31890 32271 32924
CNY 0 3826 3919
EUR 29360 29581 30664
GBP 34264 34655 35603
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14661 15251
SGD 19778 20060 20641
THB 701 764 817
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,487 29,511 30,896
JPY 157.57 157.85 167.23
GBP 34,483 34,576 35,739
AUD 17,898 17,963 18,625
CAD 18,170 18,228 18,886
CHF 32,115 32,215 33,130
SGD 19,911 19,973 20,738
CNY - 3,796 3,939
HKD 3,286 3,296 3,431
KRW 15.98 16.66 18.11
THB 750.6 759.87 812.86
NZD 14,626 14,762 15,184
SEK - 2,666 2,759
DKK - 3,945 4,080
NOK - 2,638 2,729
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,019.89 - 6,790.15
TWD 738.34 - 893.69
SAR - 6,885.36 7,246.7
KWD - 83,195 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,086 26,106 26,466
EUR 29,442 29,560 30,752
GBP 34,488 34,627 35,656
HKD 3,285 3,298 3,415
CHF 31,961 32,089 33,019
JPY 157.91 158.54 166.44
AUD 17,893 17,965 18,559
SGD 19,981 20,061 20,649
THB 768 771 807
CAD 18,185 18,258 18,828
NZD 14,707 15,246
KRW 16.60 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26466
AUD 17874 17974 18899
CAD 18190 18290 19304
CHF 32153 32183 33765
CNY 3806.8 3831.8 3967.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29573 29603 31326
GBP 34618 34668 36426
HKD 0 3355 0
JPY 158.5 159 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14801 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19962 20092 20818
THB 0 731.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14650000 14650000 14950000
SBJ 13000000 13000000 14950000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,466
USD20 26,121 26,171 26,466
USD1 26,121 26,171 26,466
AUD 17,954 18,054 19,159
EUR 29,361 29,461 31,117
CAD 18,121 18,221 19,525
SGD 20,040 20,190 20,745
JPY 158.98 160.48 166.01
GBP 34,506 34,656 35,731
XAU 14,648,000 0 14,952,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80