“Bóng đen” nợ xấu chưa tan, nợ ẩn mình gần 200 nghìn tỷ đồng cùng những ẩn số đáng lo

(TBTCO) - Nhiều dự báo cho thấy, rủi ro nợ xấu nhiều khả năng tiếp tục leo thang trong quý II sau khi tăng 16% trong quý I. Nợ xấu tiềm ẩn gần 200 nghìn tỷ đồng, cộng thêm áp lực từ dư nợ chịu tác động thuế quan và hơn 537 nghìn tỷ đồng nợ xấu tại các tổ chức tín dụng yếu kém, có nơi lên tới 98,5% có thể gây thêm áp lực cho hệ thống.
aa

NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng
Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Thu hồi nợ chậm, tài sản "đắp chiếu", ngân hàng chờ cơ chế gỡ khó

Báo cáo cập nhật chất lượng tài sản ngành ngân hàng quý I/2025 từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, nợ xấu quay đầu tăng mạnh sau quý IV/2024 tích cực.

Nợ xấu nhiều khả năng tăng trong quý II

Nhìn lại bức tranh nợ xấu hiện nay, theo TS. Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) hết hiệu lực, ý thức trả nợ của khách hàng dù có sự cải thiện, song vẫn còn tình trạng buông lỏng so với giai đoạn trước, khiến tỷ lệ nợ xấu tiếp tục có xu hướng tăng.

Tính đến ngày 31/12/2024, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ở mức khoảng 5,36%. Riêng trong 2 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ này tăng lên 5,47%, tương ứng giá trị tuyệt đối khoảng 34.000 tỷ đồng.

Cũng theo ông Hùng, mặc dù tốc độ xử lý nợ xấu tại các ngân hàng được cải thiện, phần lớn vẫn dựa vào nguồn dự phòng rủi ro, chiếm trên 48%. Tỷ trọng nợ được xử lý bằng nguồn trả nợ từ khách hàng đạt hơn 35%, còn lại thông qua xử lý tài sản bảo đảm khoảng trên 7.000 tỷ đồng.

"Tốc độ xử lý nợ xấu đang có dấu hiệu chậm lại rõ rệt. Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được kỳ vọng sẽ mang lại tác động tích cực, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý nợ xấu" - ông Hùng kỳ vọng.

“Bóng đen” nợ xấu chưa tan, nợ ẩn mình gần 200 nghìn tỷ đồng cùng những ẩn số đáng lo
Nguồn: VDSC.

Nợ xấu "ẩn mình" gần 200 nghìn tỷ đồng

"Với diễn biến này, rủi ro nợ xấu tiếp tục tăng mạnh trong quý tiếp theo là khá cao, nếu như các khoản nợ nhóm 2 này không được xử lý kịp thời. Nợ xấu tiềm ẩn cao khoảng 193 nghìn tỷ đồng (gồm nợ tại VAMC, nợ tiềm ẩn rủi ro, nợ cơ cấu lại theo Thông tư số 02) cùng dư nợ của các khách hàng có khả năng bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế quan đối ứng cũng sẽ khiến cho xu hướng tăng của nợ xấu chưa thể sớm dừng lại" - chuyên gia VDSC quan ngại.

Số liệu từ VDSC cũng cho thấy, nợ xấu nội bảng từ các khoản cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết tăng hơn 37 nghìn tỷ đồng trong quý I/2025, sau khi đã giảm hơn 25 nghìn tỷ đồng vào quý trước đó, tương ứng mức tăng 16% so với quý liền kề.

Qua đó, quy mô nợ xấu nội bảng cuối quý I/2025 tăng lên mức hơn 265 nghìn tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ nợ xấu là 2,16%. Mặc dù tỷ lệ này tăng mạnh so với 1,92% của quý IV/2024, mức này vẫn thấp hơn mức đỉnh 2,26% đạt được vào quý III/2024.

Ước tính từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nợ xấu tại các tổ chức tín dụng yếu kém khoảng 537 nghìn tỷ đồng, chiếm 65% nợ xấu nội bảng của hệ thống và tập trung chủ yếu tại SCB.

Theo báo cáo của NHNN, trong 5 tổ chức tín dụng yếu kém, nợ xấu SCB lớn nhất là 98,5%. Tiếp sau là DongABank (nay là Vikki Bank) là 46,1%; CB (nay là VCB Neo) là 43,76%. Còn lại GPBank là 15,87% và OceanBank (nay là MBV) có tỷ lệ nợ xấu 7,18%. Nợ xấu của các tổ chức tín dụng không bao gồm các tổ chức tín dụng yếu kém ước đạt 295 nghìn tỷ đồng.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 92%

Cũng theo VDSC, các ngân hàng niêm yết đã xử lý rủi ro tín dụng (xóa nợ xấu nội bảng) khoảng 27 nghìn tỷ đồng trong quý I/2025 (so với 36 nghìn tỷ đồng của quý IV/2024). Như vậy, nợ xấu hình thành ròng (mức tăng trước khi xử lý rủi ro) trong quý I/2025 là 64,5 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 0,53% quy mô cho vay khách hàng và tăng mạnh so với mức gần 11 nghìn tỷ đồng quý trước.

Trong đó, nợ xấu hình thành ròng tính riêng cho nhóm ngân hàng (không bao gồm công ty tài chính) là 57,5 nghìn tỷ đồng. Diễn biến nợ xấu của BIDV và VietinBank chịu ảnh hưởng từ các khoản cho vay doanh nghiệp vật liệu xây dựng đã được cơ cấu lại trước đó.

"Trong khi đó, nợ xấu phát sinh mới tại các ngân hàng thương mại cổ phần đến từ các khoản vay mua bất động sản của khách hàng cá nhân tại các dự án chậm bàn giao do vướng mắc pháp lý" - VDSC đánh giá.

Dù nợ xấu dự báo tiếp tục tăng quý II, song quy mô tăng của nợ xấu sẽ có sự phân hóa. Theo VDSC, điều này là do phần lớn nợ xấu phát sinh của BIDV và VietinBank trong quý I/2025 đến từ các khoản nợ đã cơ cấu lại của khách hàng doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vật liệu xây dựng. Theo VietinBank, các khoản nợ này đã vượt qua thời gian thử thách và đủ điều kiện trở về nhóm nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1) trong tháng 4/2025. Do đó, hai ngân hàng quốc doanh này có thể ghi nhận hoàn nhập dự phòng từ các khoản nợ này trong quý II/2025.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục phải đối mặt với nợ xấu từ mảng bán lẻ liên quan tới các khoản vay mua bất động sản dự án của các nhà phát triển gặp khó khăn trong quý II/2025, trước khi các vấn đề về pháp lý được giải quyết kỳ vọng trong nửa cuối năm nay.

“Bóng đen” nợ xấu chưa tan, nợ ẩn mình gần 200 nghìn tỷ đồng cùng những ẩn số đáng lo

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu bị bào mòn

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) cuối quý I/2025 của ngành giảm xuống 92% từ mức 110% của quý trước. Tỷ lệ LLR của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì trên mức 100%, đạt 132% (quý IV/2024 là 167%), trong khi tỷ lệ LLR của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục bị bào mòn xuống mức 56% (quý IV/2024 là 62%).

Trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, bộ đệm nợ xấu đang ở mức thấp nhiều năm. Theo đó, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể là gần 29 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm 45% nợ xấu hình thành ròng.

Báo cáo từ Vietnam Report mới công bố cũng cho thấy, bộ đệm dự phòng cũng có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm có quy mô khác nhau.

Theo đó, các ngân hàng thương mại có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ luôn có đủ nguồn lực trích lập dự phòng, LLR luôn trên 125% dù không tránh khỏi xu hướng suy giảm. Ở nhóm quy mô dưới 300 nghìn tỷ đồng, LLR hoàn toàn trái ngược, đã xuống dưới 40% từ năm 2023, đi qua vùng đáy 29% vào quý II/2024 và hiện tăng 38%.

Việc xử lý triệt để hàng trăm nghìn tỷ đồng nợ xấu không chỉ giúp giải phóng nguồn lực tài chính bị đóng băng mà còn tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng nếu được thông qua, ban hành những cơ chế đặc thù giúp các tổ chức tín dụng xử lý nợ xấu, giảm bớt áp lực trích lập dự phòng, luân chuyển dòng vốn quay trở lại thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng chảy vào bất động sản đang phân hóa rõ nét, có ngân hàng tăng dư nợ trên 50%, song cũng không ít ngân hàng chủ động thu hẹp dư nợ để kiểm soát rủi ro. "Van" tín dụng đang được điều tiết có chọn lọc, với hàng chục nghìn tỷ đồng hướng vào cho vay mua, thuê nhà và các phân khúc ưu tiên.
Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị người thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế gia hạn trước khi thẻ hết giá trị sử dụng và chủ động kiểm tra thông tin sau khi đóng tiền để đảm bảo quyền lợi tham gia liên tục.
Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

Đưa 100% học sinh sinh viên vào “lưới” an sinh y tế

(TBTCO) - Tỷ lệ học sinh sinh viên tham gia bảo hiểm y tế đã đạt 99,39%, tạo nền tảng quan trọng để tiến tới mục tiêu 100% vào năm 2030. Để “phủ kín” lưới an sinh y tế, cần tiếp tục tháo gỡ những khoảng trống còn lại, nhất là với học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và nhóm sinh viên chưa duy trì tham gia liên tục.
Một định danh, thuận lợi hơn trong quản lý và tiếp cận an sinh

Một định danh, thuận lợi hơn trong quản lý và tiếp cận an sinh

(TBTCO) - Việc chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội được kỳ vọng tạo thuận lợi hơn cho người dân khi thực hiện các giao dịch về bảo hiểm, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu an sinh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
Trang sức 99.99 13,970 ▲60K 14,570 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1281K 14,602 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1281K 14,603 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,456 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1254K 1,445 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲594K 143,069 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲450K 108,536 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79350K 9,842 ▼88170K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲366K 88,304 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲350K 84,402 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲251K 60,413 ▲251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cập nhật: 12/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,730 26,130
USD20 25,650 25,730 26,130
USD1 24,317 25,730 26,875
AUD 18,210 18,360 19,499
EUR 29,341 29,491 31,193
CAD 18,254 18,404 19,735
SGD 20,079 20,279 20,862
JPY 164.99 166.49 172.3
GBP 34,333 34,533 35,640
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/09/2026 11:30
Ngân hàng