Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt

Thái Duy
(TBTCO) - Trong nửa cuối năm 2022, SSI Research cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và trong điều kiện phù hợp sẽ thông qua việc nới trần tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
aa

Chờ thông điệp về tín dụng cuối tuần này

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần qua của SSI Research cho biết, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tiếp tục sử dụng kênh phát hành tín phiếu trên hoạt động thị trường mở, với kỳ hạn linh hoạt từ 7 đến 28 ngày. Cụ thể, kênh điều tiết này đã phát hành tổng 21,8 nghìn tỷ đồng tín phiếu 7 ngày với lãi suất 0,65%, 78 nghìn tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày với lãi suất 0,9% và 39,9 nghìn tỷ lãi suất 1,5% trong khi có 72,6 nghìn tỷ đồng đáo hạn. Kênh mua kỳ hạn được sử dụng chủ yếu vào các phiên đầu tuần, với tổng khối lượng phát hành là 793 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày và lãi suất 2,5%. Tính chung trong tuần, NHNN đã hút ròng tổng 66,8 nghìn tỷ đồng.

Tín dụng tăng tạo áp lực đáng kể lên mặt bằng lãi suất huy động đối với các ngân hàng có thể giải ngân tín dụng được trong giai đoạn vừa qua.

“Nhìn chung, thanh khoản trong hệ thống vẫn tương đối dồi dào và mặt bằng lãi suất liên ngân hàng không có nhiều thay đổi so với tuần trước. Kết tuần, lãi suất kỳ hạn qua đêm ghi nhận ở 0,93% (tăng 5 điểm cơ bản) trong khi 1 tuần không thay đổi, ở 1,52%. Chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn đang duy trì ở mức âm khoảng 60 điểm cơ bản” - các chuyên gia của SSI Research cho hay.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt

Số liệu mới cập nhật từ NHNN cho thấy, tính đến ngày 30/6 và so với cuối năm 2021, tín dụng tăng 9,35% (so với mức 6,47% vào 2021), tương đương với mức tăng 16,7% so với cùng kỳ. So với số liệu được công bố tính đến 20/6, chỉ trong 10 ngày, lượng tín dụng bơm mới vào thị trường đạt hơn 87 nghìn tỷ đồng, trong khi đó lượng tiền gửi tăng thêm là hơn 59 nghìn tỷ đồng.

Theo các chuyên gia SSI Research, điều này rõ ràng tạo áp lực đáng kể lên mặt bằng lãi suất huy động đối với các ngân hàng có thể giải ngân tín dụng được trong giai đoạn vừa qua. Trên thực tế, các ngân hàng thương mại cũng đã lần lượt điều chỉnh biểu lãi suất huy động trong quý II và có mức chênh lệch khoảng 30-50 điểm cơ bản giữa lãi suất thực tế và niêm yết, thông qua các chương trình khuyến mãi, cũng như cộng thêm phần trăm lãi suất dành cho gửi online.

Theo các chuyên gia của SSI Research, trong nửa cuối năm 2022, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và trong điều kiện phù hợp sẽ thông qua việc nới trần tín dụng cho các ngân hàng thương mại.

“Cuộc họp tổng kết ngành ngân hàng trong 6 tháng đầu năm và hoạt động trong 6 tháng cuối năm được NHNN tổ chức vào cuối tuần này kỳ vọng sẽ có những thông báo rõ ràng hơn về chính sách tín dụng trong thời gian tới” - các chuyên gia của SSI Research cho hay.

Tỷ giá USD/VND tăng sau động thái của Ngân hàng Nhà nước

Trong tuần trước, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố biên bản cuộc họp tháng 6, với dự báo lạm phát sẽ tăng 5,0% trong năm 2022, sau đó sẽ giảm tốc còn 2,4% vào năm 2023 và 2,0% năm 2024. Do đó, Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) quyết định tăng lãi suất 5 điểm cơ bản, lên 1,50 - 1,75% trong tháng 6 và thảo luận việc lựa chọn tăng 50 điểm hay 75 điểm trong cuộc họp tiếp theo ngày 26 - 27/7.

Trên thực tế, theo thống kê từ CME Group, tại thời điểm 11/7, 93% thị trường đã đặt cược việc FED tăng lãi suất 75 điểm trong kỳ họp tháng 7, thậm chí có 7% đặt cược cho việc FED sẽ tăng 100 điểm cơ bản trong kỳ họp này.

Theo SSI Research, điểm mấu chốt cho góc nhìn chính sách tiền tệ của FED trong giai đoạn cuối 2022 và năm 2023 nhiều khả năng là cuộc họp tháng 9, khi những thông tin về tăng trưởng kinh tế cùng thị trường lao động của Mỹ sẽ phản ánh rõ nét về áp lực lạm phát.

Tương đồng diễn biến các đồng tiền trong khu vực và sau động thái nâng giá bán USD tại Ngân hàng Nhà nước vào đầu tuần trước, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng.

Đồng USD vẫn duy trì ở mức cao trong tuần qua, khi tăng 1,8% và so với cuối 2021, DXY đã tăng 11,8%. Các đồng tiền chủ chốt đều giảm giá đáng kể, với EUR -2,2%, GBP -0,5%, JPY -0,66%. Các đồng tiền của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cũng giảm giá trong tuần, và so với cuối năm 2021, các đồng tiền này đã mất giá 4-10%.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt

Tương đồng diễn biến các đồng tiền trong khu vực và sau động thái nâng giá bán USD tại NHNN vào đầu tuần trước, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng.

Cụ thể, theo số liệu từ SSI Research, trên thị trường liên ngân hàng, USD/VND tăng 0,34% (lên VND 23.358 đồng) và tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại tăng 60 đồng, kết tuần ở mức 23.190/23.500 đồng (mua vào/bán ra) - mức cao nhất kể từ tháng 5/2020.

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường tự do tăng 90 đồng và hiện giao dịch ở 24,030/24,060 và chênh lệch giữa 2 thị trường vẫn đang ở mức cao.

Mặc dù vậy, theo các chuyên gia của SSI Research, nếu so với cuối năm 2021, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng đã tăng 2,3% và tỷ giá niêm yết tăng khoảng 2,5% - mức tăng giá mạnh nhất trong vòng 4 năm trở lại đây. Tuy nhiên, nếu so với cuối năm 2019 (trước Covid-19), USD/VND cũng mới chỉ tăng 0,8% so với mức mất giá 20,8% của THB (Thái Lan), -11% của INR (Ấn Độ) hay thậm chí -3,9% của SGD (Singapore), cho thấy sức mạnh của đồng VND nhờ nguồn cung ngoại tệ tích cực trong vòng 3 năm qua./.

Thái Duy

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30