Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm

Tú Anh
(TBTCO) - Trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Lê Hoài Ân - CFA Founder IFSS & Co-founder WiResearch, chuyên gia tài chính về ngân hàng nhận định lợi nhuận ngành ngân hàng trong quý III/2024 tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng tích cực nhờ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ. Tuy nhiên, tăng trưởng huy động vốn chậm lại so với tăng trưởng huy động suốt hai năm qua cùng tỷ giá USD/VND tiệm cận mức đỉnh cũ phần nào tạo nên mối lo về thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong mùa cao điểm cuối năm.
aa
Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm
Tăng trưởng tín dụng các ngân hàng so với đầu năm. Nguồn: WiGroup

PV: Trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống cùng nhiều ngân hàng bứt tốc những tháng gần đây, ông đánh giá thế nào về tăng trưởng lợi nhuận của ngành ngân hàng và sự phân hoá giữa các nhóm ngân hàng sau khi bức tranh lợi nhuận quý III/2024 của ngành ngân hàng chính thức lộ diện?

Nhận diện thế khó cho tăng trưởng tín dụng cuối năm

Ông Lê Hoài Ân: Lợi nhuận ngành ngân hàng trong quý III/2024 tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, nhờ vào tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ. Nhiều ngân hàng đã đạt mức tăng trưởng tín dụng từ 10 - 15% trong 9 tháng đầu năm, hỗ trợ tích cực cho thu nhập lãi thuần. Các lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng có sự hồi phục đáng kể, cùng với các gói tín dụng ưu đãi cũng góp phần thúc đẩy nhu cầu vay vốn.

Sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng trở nên rõ ràng hơn. Các ngân hàng quốc doanh như Vietcombank, BIDV hay Agribank tiếp tục duy trì lợi thế nhờ quy mô lớn, nguồn CASA dồi dào và khả năng huy động vốn tốt. Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân lớn chuyên cho vay doanh nghiệp như: Techcombank, MB Bank cũng đạt được kết quả tích cực với mức tăng trưởng vượt trội. Nhóm các ngân hàng chuyên cho vay cá nhân như ACB, VIB, TPBank cũng bắt đầu chuyển dịch mạnh phần động lực tăng trưởng sang phân khúc doanh nghiệp.

Về NIM (biên lãi ròng) ngành ngân hàng có dấu hiệu tạo đáy trong quý III/2024 và được kỳ vọng sẽ cải thiện trong những quý tới. Yếu tố chính là tỷ lệ CASA (tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn trên tổng tiền gửi khách hàng) ở một số ngân hàng lớn đang được cải thiện, giúp giảm chi phí vốn và tăng cường biên lợi nhuận.

Tuy nhiên, nguồn thu nhập ngoài lãi lại là một điểm trừ. Hầu hết các mảng thu nhập phi lãi như: phí bảo hiểm, phí dịch vụ thanh toán và kinh doanh ngoại hối đều ghi nhận tăng trưởng âm. Đây là thách thức lớn, đòi hỏi các ngân hàng phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược nhằm đa dạng hóa nguồn thu và cải thiện hiệu quả trong các mảng phi lãi.

PV: Trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cao cuối năm để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, huy động vốn lại chậm lại và thấp hơn tăng trưởng tín dụng, khác biệt so với thời gian trước đây. Cùng với đó, hiện nhiều ngân hàng có tỷ lệ LDR lớn hơn quy định là 85%, thậm chí vượt 100%. Ông nhận định ra sao về thực tế này?

Ông Lê Hoài Ân: Thực trạng tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay trên huy động vốn) vượt ngưỡng 85% ở một số ngân hàng là vấn đề cần lưu ý. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa hai cách tính: (i) LDR gộp bao gồm tất cả các nguồn vốn huy động (tiền gửi, vốn vay liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá); (ii) LDR theo quy định chỉ tính tiền gửi từ dân cư và tổ chức kinh tế. Theo cách tính LDR theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, hầu hết các ngân hàng hiện vẫn đáp ứng được mức an toàn.

Tôi cho rằng tình trạng này xuất phát từ hai nguyên nhân chính. Một là, tăng trưởng huy động vốn chậm lại do lãi suất tiền gửi không còn hấp dẫn so với các kênh đầu tư khác. Hai là, tăng trưởng tín dụng cao trong nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp cần vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để đảm bảo đủ vốn cho vay, nhiều ngân hàng đã giảm tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu chính phủ và các tài sản có tính thanh khoản cao khác, nhằm tập trung nguồn vốn cho vay. Mặc dù chiến lược này mang lại hiệu quả ngắn hạn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro thanh khoản nếu lãi suất hoặc tỷ giá biến động mạnh trong thời gian tới.

Việc duy trì tỷ lệ LDR an toàn sẽ tiếp tục là thách thức, đặc biệt khi Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát tín dụng chặt chẽ hơn để đảm bảo ổn định hệ thống.

PV: Hiện tỷ giá USD/VND tăng nhanh và sát vùng đỉnh cũ, điều này liệu sẽ tạo áp lực thanh khoản lên hệ thống ngân hàng thời gian cuối năm, thưa ông?

Ông Lê Hoài Ân: Tỷ giá USD/VND đang tiệm cận mức đỉnh cũ, tạo áp lực không nhỏ lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Việc tỷ giá tăng cao có thể dẫn đến hai hệ quả chính.

Thứ nhất, chi phí vốn vay ngoại tệ tăng lên, làm giảm lợi nhuận từ các hoạt động cho vay ngoại tệ. Thứ hai, xu hướng chuyển đổi từ tiền gửi VND sang USD, khiến thanh khoản VND trong hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Việc hút tiền có thể ảnh hưởng đến xu hướng nới lỏng tiền tệ

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng hút tiền đồng về qua các kênh OMO (thị trường mở) nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, động thái này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt thanh khoản VND do tăng trưởng tín dụng vượt trội so với tăng trưởng huy động trong suốt hai năm qua. Dư nợ sẽ phải tăng trưởng thêm khoảng 4 - 5% để có thể đạt mức mục tiêu đặt ra, do đó, việc hút tiền sẽ có thể ảnh hưởng đến xu hướng nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế.

Tú Anh

Đọc thêm

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

(TBTCO) - Ngày 8/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Công ty Quản lý và Kinh doanh Chợ Bình Điền chính thức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, hướng đến mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp cho thương nhân và hộ kinh doanh đang hoạt động tại chợ Bình Điền.
VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,600
Hà Nội - PNJ 143,200 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,600
Miền Tây - PNJ 143,200 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 09/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19054
CAD 18273 18549 19170
CHF 31356 31735 32375
CNY 0 3829 3925
EUR 29533 29754 30837
GBP 34334 34725 35666
HKD 0 3182 3385
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14864 15451
SGD 19978 20260 20831
THB 704 767 821
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 18377 18477 19402
CAD 18468 18568 19582
CHF 31607 31637 33211
CNY 3810.3 3835.3 3970.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29714 29744 31469
GBP 34638 34688 36440
HKD 0 3330 0
JPY 165.27 165.77 176.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14977 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20140 20270 20991
THB 0 733.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 09/09/2026 07:30
Ngân hàng