Nhiều tín hiệu khả quan trong huy động vốn và tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh

Gia Cư
(TBTCO) - Tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng tăng 8,6% và dư nợ tăng 9,5% so với cùng kỳ. Mặt bằng lãi suất huy động bằng VNĐ tại các ngân hàng thương mại cổ phần giảm 0,22% - 0,3%/năm tùy kỳ hạn so với cuối năm 2023 và lãi suất cho vay bằng VNĐ giảm 0,1% - 0,7%/năm… đang được xem là những tín hiệu khởi sắc trong phát triển kinh tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, trong 2 tháng đầu năm 2024.
aa
Nhiều tín hiệu khả quan trong huy động vốn và tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh
Ảnh minh họa

Tín hiệu tích cực cho tăng trưởng tín dụng

Theo thông tin mới nhất của Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2 tháng đầu năm 2024, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tính đến 29/2/2024 ước đạt 3.508,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ.

Trong đó, vốn huy động bằng VNĐ ước đạt 3.238,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 92,3% tổng vốn huy động, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ. Vốn huy động bằng ngoại tệ ước đạt 270 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,7% tổng vốn huy động, tăng 1,1% so với tháng trước và giảm 4,7% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng, trên địa bàn thành phố tính đến 29/2/2024, ước đạt 3.529,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ.

Các chuyên gia nhận định, những tín hiệu tích cực về sản xuất kinh doanh của một số ngành, lĩnh vực trong những ngày đầu năm mới như: có đơn hàng để sản xuất; công nhân trở lại làm việc đạt tỷ lệ cao, nhiều thông tin tuyển dụng; xuất khẩu và đầu tư công tiếp tục thực hiện tốt... là những yếu tố thuận lợi. Các ngân hàng cần quan tâm, tiếp cận và hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, dịch vụ ngân hàng để duy trì và thúc đẩy đà tăng trưởng.

Đại diện Agribank cho biết, ngay những tháng đầu năm 2024, Agribank dành hơn 60.000 tỷ đồng triển khai đồng bộ nhiều chương trình tín dụng ưu đãi đến khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Theo đó, từ 1/2/2024 đến hết 31/12/2024, Agribank dành 2.000 tỷ đồng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh sản phẩm OCOP (chương trình mỗi xã/phường một sản phẩm), với lãi suất thấp hơn tối đa 2,0%/năm so với sàn lãi suất cho vay của Agribank. Cùng với đó, Agribank tiếp tục dành 10.000 tỷ đồng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) với lãi suất thấp hơn tối đa 1,5%/năm so với sàn lãi suất cho vay thông thường.

Đây được xem là tín hiệu tích cực cho tăng trưởng tín dụng và hoạt động tín dụng trọng hệ thống các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong tháng 3 và những tháng tiếp theo.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, để nguồn vốn hấp thụ góp phần tích cực hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế cần "đồng bộ hóa" hoạt động kết nối người dân - doanh nghiệp - ngân hàng khi nhu cầu các bên cùng được đáp ứng (vay vốn và hấp thụ vốn).

Ông Đỗ Thanh Sơn - Phó Tổng giám đốc phụ trách VietinBank cho rằng, trên cơ sở hạn mức tăng trưởng tín dụng, ngay từ đầu năm ngân hàng đã cắt giảm lãi suất, bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đẩy vốn tín dụng ra. Tuy nhiên, để tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế phải có chiến lược kích cầu ở quy mô cả nước cùng vào cuộc. Riêng với thị trường bất động sản, mấu chốt vẫn là tiếp tục gỡ khó về pháp lý cho các dự án, chứ không chỉ là câu chuyện giảm lãi suất.

Các chuyên gia cũng cho rằng, thời điểm này, lãi suất ngân hàng đã xuống mức thấp, có thể nói là rất rẻ trong vòng nhiều năm qua. Về phía doanh nghiệp muốn vay được vốn rẻ phải tất toán hợp đồng vay cũ, phải chủ động tháo gỡ những vướng mắc về hồ sơ, pháp lý trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Nhiều giải pháp kích cầu

Theo ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, với diễn biến đó, để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo định hướng của Chính phủ, của NHNN, các tổ chức tín dụng nói chung và trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nói riêng, các giải pháp mở rộng và tăng trưởng tín dụng đang được tập trung triển khai.

Cụ thể, các tổ chức tín dụng cần khai thác và sử dụng vốn hiệu quả, tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng hiện hữu sử dụng vốn vay hiệu quả; hỗ trợ khách hàng thông qua việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn, dịch vụ ngân hàng; tiếp tục xem xét điều chỉnh giảm lãi suất cho vay hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính và xu hướng giảm lãi suất bình quân đầu vào của mỗi tổ chức tín dụng, với tinh thần chia sẻ, đồng hành để cùng phát triển.

Đồng thời, các tổ chức tín dụng tiếp tục tập trung và thực hiện giải pháp tăng trưởng tín dụng vào nhóm ngành lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế; nhóm ngành lĩnh vực đang có xu hướng tăng trưởng tích cực; khách hàng tốt để hoạt động tốt hơn, tạo hiệu ứng tăng trưởng tích cực và củng cố quan hệ ngân hàng - khách hàng.

Nhiều tín hiệu khả quan trong huy động vốn và tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh
Doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh ngay từ đầu năm. Ảnh: Sơn Nam

Ngoài ra, ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện các giải pháp liên quan đến kích thích sản xuất kinh doanh; kích thích nhu cầu vay vốn, bên cạnh những thuận lợi về lãi suất, về thị trường tiền tệ, về hạn mức tín dụng…, cần tổ chức thực hiện các gói tín dụng ưu đãi, các sản phẩm tín dụng linh hoạt, hấp dẫn và thuận lợi cho khách hàng, doanh nghiệp để kích thích doanh nghiệp đầu tư, vay vốn mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh.

Trong quá trình này, các ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt và thực chất hoạt động cải cách hành chính và bằng hành động cụ thể, thiết thực, mang lại tiện ích, tiện lợi và sự hài lòng cho khách hàng để không chỉ giúp khách hàng thuận lợi trong quan hệ giao dịch với khách hàng mà còn hỗ trợ, tư vấn, thông tin cho khách hàng củng cố và phát triển quan hệ ngân hàng - khách hàng bền vững, làm cơ sở mở rộng và tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả.

Cũng theo ông Lệnh, trong bối cảnh được dự báo còn nhiều khó khăn thách thức, việc chủ động và thực hiện tốt các giải pháp tín dụng của các tổ chức tín dụng sẽ không chỉ hạn chế tác động của những khó khăn khách quan, khó khăn từ phía thị trường mà còn góp phần đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sự ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh để tăng trưởng và phát triển.

Kết quả này, sẽ tác động tích cực trở lại đối với tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng và góp phần thực hiện tốt định hướng tăng trưởng tín dụng của NHNN trong năm 2024./.

Phấn đấu năm 2024 tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%

Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, năm 2024 NHNN tiếp tục điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Định hướng tín dụng năm 2024, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Năm 2024, ước tính khoảng 2 triệu tỷ đồng sẽ được đưa vào nền kinh tế. Song song với đó NHNN tập trung bám sát chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh công tác xử lý, thu hồi nợ xấu; phấn đấu năm 2024 tỷ lệ nợ xấu nội bảng (không bao gồm các NHTM yếu kém) dưới 3%.

Gia Cư

Đọc thêm

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80