Những điểm giống và khác nhau quanh sự cố phá sản ngân hàng tại Mỹ

Chí Tín
(TBTCO) - Phân tích về việc 2 ngân hàng Silicon Valley Bank (SVB) và Signature Bank (SB) của Mỹ phá sản, TS. Cấn Văn Lực - thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cho biết, ảnh hưởng lan truyền đến thị trường tài chính sẽ không lớn, do Chính phủ Mỹ đã cam kết đảm bảo quyền lợi người gửi tiền. Tuy nhiên, sự đổ vỡ này cũng để lại một số bài học quan trọng trong quản trị tài chính.
aa

PV: Qua quan sát của ông về sự phá sản của ngân hàng SVB, bản chất chính nằm sau sự sụp đổ của ngân hàng này là gì?

TS. Cấn Văn Lực
TS. Cấn Văn Lực

TS. Cấn Văn Lực: Về SVB, ngân hàng này tập trung quá nhiều vào một số ít lĩnh vực, đó là công nghệ, đổi mới sáng tạo… Trong khi, đây là những lĩnh vực rủi ro, có nhiều biến động nhanh khi nền kinh tế có sự điều chỉnh, suy giảm tăng trưởng từ đầu 2022 đến nay. Một trong những đặc điểm của SVB là chủ yếu nhận tiền gửi từ doanh nghiệp công nghệ, từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Những nguồn vốn này không ổn định, nên khi cần, các doanh nghiệp, quỹ đầu tư rút ra để thanh toán nghĩa vụ đáo hạn.

Ngoài ra, nguồn gốc sự kiện phá sản của SVB được nhìn nhận là do hoạt động kinh doanh - chủ yếu là kinh doanh trái phiếu - thua lỗ. Việc lãi suất tăng nhanh khiến dòng tiền đầu tư vào các công ty công nghệ và startups giảm dần, khiến họ phải sử dụng tiền gửi tại SVB để trang trải chi phí gia tăng. SVB buộc phải bán các trái phiếu này để có tiền chi trả, nhưng càng bán, càng lỗ, phải lên phương án phát hành thêm cổ phiếu để bù đắp. Nhu cầu huy động vốn cổ phiếu tăng bất thường gây lo ngại cho các quỹ đầu tư mạo hiểm, các doanh nghiệp gửi tiền và họ đã đồng loạt rút tiền.

SVB đã phá sản vì nguyên nhân kinh điển: khách hàng đồng loạt rút tiền, tháo chạy khỏi ngân hàng.
SVB đã phá sản vì nguyên nhân kinh điển: khách hàng đồng loạt rút tiền, tháo chạy khỏi ngân hàng.

PV: Vậy còn SB, việc phá sản của ngân hàng này có gì khác so với SVB không, thưa ông?

TS. Cấn Văn Lực: Với trường hợp SB, bản chất hoạt động của ngân hàng cũng khá tương đồng với SVB, đặc biệt việc cùng phục vụ chính các công ty startup và khi các công ty này rút vốn dẫn đến việc mất thanh khoản. Một trong những đặc điểm khác của SB so với SVB chỉ nằm ở chỗ đây là một ngân hàng chuyên phục vụ liên quan đến tiền kỹ thuật số. Tuy nhiên, đồng tiền này giảm giá mạnh trong 2 năm qua do nhiều nước có ý kiến khác nhau về đồng tiền này. Một số nước không muốn phát triển đồng tiền kỹ thuật số không chính thống dẫn đến những khó khăn của ngân hàng này.

PV: Vậy theo ông, SVB và SB phá sản có thể tác động như thế nào đến thị trường tài chính thế giới và Việt Nam?

TS. Cấn Văn Lực: Việc đóng cửa SVB và SB có thể ảnh hưởng đến người gửi tiền và nhiều khách hàng của họ dẫn đến nhiều công ty có thể sẽ gặp phải khó khăn về dòng tiền. Tuy nhiên, các sự cố này sẽ khó gây ra hậu quả lan truyền trên thị trường tài chính, khi đã được can thiệp sớm từ Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC). Trường hợp của SB thực tế vẫn tốt hơn SVB nhưng Chính phủ Mỹ vẫn cho đóng cửa ngân hàng này để có sự chủ động trong xử lý khủng hoảng. Đặc biệt, chính phủ đã đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền cũng đã hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực của việc phá sản các ngân hàng này.

Ngoài ra, sự cố này cũng có thể sẽ khiến FED (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) xem xét và điều chỉnh nhẹ kế hoạch điều hành lãi suất thời gian tới. Lý do là, FED nếu vẫn tiếp tục tăng mạnh lãi suất trong bối cảnh này sẽ khiến thị trường tài chính hứng chịu thêm một cú sốc mới.

Một số thông tin cơ bản về sự cố 2 ngân hàng bị phá sản:

Ngày 10/3, Ngân hàng Silicon Valley Bank (SVB) tuyên bố phá sản, ghi nhận sự kiện đổ vỡ ngân hàng lớn nhất của Mỹ kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. SVB có tổng tài sản là 212 tỷ USD, trong đó có 165 tỷ USD là tiền gửi.

Tiếp đó vào ngày 13/3, các cơ quan quản lý của Mỹ đã đóng cửa ngân hàng SB nhằm ngăn chặn cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể lan rộng. SB có tổng tài sản 110,4 tỷ USD và tổng tiền gửi 88,6 tỷ USD.

Các cơ quan quản lý khẳng định, những người gửi tiền tại SVB và SB đều có toàn quyền truy cập vào tiền gửi của họ. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và Bộ Tài chính Mỹ đã xây dựng một chương trình khẩn cấp để ngăn chặn các khoản tiền gửi bị rút ồ ạt tại cả 2 ngân hàng này bằng cách sử dụng cơ quan cho vay khẩn cấp của FED, kết hợp với hoạt động của FDIC.

PV: Từ sự cố của SVB và SB, các tổ chức tài chính Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm gì, thưa ông?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi cho rằng, các tổ chức tài chính, ngân hàng cần quan tâm đến cả hai vế trong hoạt động, bao gồm cả tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro, trong đó cần đa dạng hóa và quản lý các loại rủi ro chính và cần phát triển bền vững.

Sự việc này cũng cho thấy thị trường tài chính vốn rất nhạy cảm, hiệu ứng tâm lý đám đông mạnh. Vì vậy, minh bạch, kỷ luật thị trường cùng với nâng cao hiểu biết của người dân, doanh nghiệp về dịch vụ tài chính và hiệu quả truyền thông là rất quan trọng.

PV: Ở góc độ quản lý thị trường, những điểm cần lưu ý là gì, thưa ông?

TS. Cấn Văn Lực: Mỹ là một nền kinh tế có tính thị trường cao, nhưng vai trò, năng lực và hiệu quả của các cơ quan giám sát cũng vẫn rất quan trọng. Với trường hợp SVB, lỗ hổng ở đây là việc cơ quan giám sát ngân hàng của bang này chưa có những cảnh báo kịp thời. Trong khi đó, sự sụp đổ của SB cũng thể hiện sự rủi ro rất lớn của tiền kỹ thuật số trong khi hành lang pháp lý cho việc này còn thiếu.

Ngoài ra, mỗi quốc gia cần có một mạng lưới an toàn tài chính, trong đó cần quan tâm đến rủi ro hệ thống, rủi ro liên thông giữa ngân hàng, chứng khoán, bất động sản. Theo đó, các nền kinh tế cần có sẵn cơ chế xử lý khủng hoảng để có thể phản ứng nhanh, bài bản, hiệu quả, trong đó các cơ quan thanh tra - giám sát cần độc lập hơn, vai trò bảo hiểm tiền gửi cũng cần rõ nét hơn.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cổ phiếu tài chính toàn cầu đã mất 465 tỷ USD

Các cổ phiếu tài chính toàn cầu đã mất 465 tỷ USD giá trị thị trường trong hai ngày, khi các nhà đầu tư cắt giảm tiếp xúc với những người cho vay từ New York đến Nhật Bản, sau sự sụp đổ của Ngân hàng Thung lũng Silicon (SVB).

Tổn thất mở rộng vào ngày 14/3, với Chỉ số tài chính châu Á - Thái Bình Dương của MSCI giảm tới 2,7%, xuống mức thấp nhất kể từ ngày 29/11/2022. Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ giảm tới 8,3% tại Nhật Bản, trong khi Tập đoàn tài chính Hana của Hàn Quốc giảm 4,7% và ANZ Group Holdings Ltd. của Australia giảm 2,8%.

Có những lo ngại rằng các công ty tài chính có thể thấy tác động từ các khoản đầu tư của họ vào trái phiếu và các công cụ khác đối với mối lo ngại do SVB gây ra. Lợi suất trái phiếu kho bạc giảm mạnh vào ngày 13/3 trong bối cảnh FED có thể trì hoãn việc tăng lãi suất do tình trạng hỗn loạn trong hệ thống ngân hàng.

"Thị trường tài chính đang đi trên vỏ trứng" - John Woods - Giám đốc đầu tư của Credit Suisse Group AG tại châu Á - Thái Bình Dương, cho biết. "Chúng tôi thực sự cần biết chính xác tác động của điều này đối với thị trường. Cảm giác của tôi là FED có thể sẽ tạm dừng tăng lãi suất, vì tôi nghĩ điều này phần lớn liên quan đến rủi ro thanh khoản".

Tổng giá trị thị trường của các công ty có trong Chỉ số Tài chính thế giới MSCI và Chỉ số Tài chính MSCI EM đã giảm khoảng 465 tỷ USD kể từ ngày 10/3. Các ngân hàng khu vực của Mỹ nằm trong số những ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề nhất vào ngày 13/3 khi Chỉ số Ngân hàng khu vực KBW giảm 7,7%, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 6/2020.

Các ngân hàng Nhật Bản có tỷ lệ lỗ trên vốn chủ sở hữu cao nhất trong khu vực, theo dữ liệu của khoảng 130 công ty cho vay châu Á - Thái Bình Dương với hơn 5 tỷ USD tài sản. Jimoto Holdings Inc., Tsukuba Bank Ltd. và Fukushima Bank Ltd. nằm trong số những ngân hàng có tỷ lệ lỗ trên vốn chủ sở hữu ít nhất là 9%. Cả 3 ngân hàng trên, mỗi ngân hàng có vốn hóa thị trường dưới 150 triệu USD, đã bị sụt giảm hơn 10% trong 3 ngày.

Chí Tín

Đọc thêm

Mở dư địa huy động vốn dài hạn qua kênh trái phiếu chính phủ

Mở dư địa huy động vốn dài hạn qua kênh trái phiếu chính phủ

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Thảo Hạnh, Chuyên gia Nghiên cứu tín dụng và Tài chính bền vững, FiinRatings cho rằng, trước nhu cầu vốn dài hạn ngày càng lớn, việc cải thiện thanh khoản, phát triển các kỳ hạn và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng huy động vốn qua trái phiếu chính phủ.
Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

Cải cách thuế từ tư duy quản lý đến tinh thần đồng hành

(TBTCO) - Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt lớn trong tiến trình hoàn thiện thể chế chính sách quản lý thuế của Việt Nam. Cải cách không chỉ được đánh giá qua số lượng văn bản được ban hành, mà còn ở việc đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam.
Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

Lãi suất trái phiếu tăng, doanh nghiệp thêm áp lực huy động vốn

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lê Tiến Trung, Giảng viên Tài chính Ngân hàng, Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa cho rằng, chi phí vốn gia tăng đang ảnh hưởng đến kế hoạch phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trong khi khả năng huy động vốn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tín dụng và năng lực trả nợ.
Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

Nâng chuẩn hạ tầng, củng cố sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán

(TBTCO) - Sau bước tiến về nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết và đổi mới cơ chế giao dịch. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Lương Duy Phước – Giám đốc Phân tích, Công ty cổ phần Chứng khoán Kafi cho rằng, những cải cách về tổ chức thị trường, giao dịch và thanh toán cần được triển khai đồng bộ với nâng cao năng lực quản trị rủi ro, qua đó tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn.
Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

Đón dòng vốn FDI chất lượng cao: Chuyển mạnh từ tư duy đến hành động

(TBTCO) - Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cụ thể hóa đột phá trong thu hút đầu tư nước ngoài, từ hoàn thiện thể chế đến phát triển hệ sinh thái đầu tư đồng bộ. Bà Bùi Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư về những chuyển động chính sách nhằm nâng chất dòng vốn FDI và tăng liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

Gỡ nút thắt vốn doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ

(TBTCO) - Dù chiếm tỷ trọng đáng kể trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận vốn. Theo bà Từ Thu Hiền - Giám đốc Sáng kiến Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và kinh doanh (WISE), cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ tạo điều kiện để nhóm doanh nghiệp này phát huy tiềm năng, mở rộng hoạt động và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) nhấn mạnh, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chính sách đã được ban hành đồng bộ, tạo động lực cho doanh nghiệp bứt phá từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

(TBTCO) - Dòng vốn FDI từ EU còn rất nhiều tiềm năng, song điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm vốn mà còn là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, hình thành quan hệ đối tác đầu tư có chiều sâu... Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Christian-Ludwig Weber-Lortsch, cựu Đại sứ Đức tại Việt Nam, thành viên Ban Cố vấn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) xung quanh vấn đề này.
Xem thêm