Thị trường tiền tệ tuần 5 - 9/12:

Tín hiệu tích cực từ nới room, tỷ giá vào giai đoạn giảm sâu

Chí Tín
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý nhất trên thị trường tiền tệ tuần qua là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định nới hạn mức tăng trưởng tín dụng (room tín dụng), qua đó góp phần giải tỏa cơn khát vốn trên thị trường. Trong khi đó, tỷ giá sau một giai đoạn giảm từ từ đã có những động thái giảm mạnh và sâu trong tuần qua.
aa

Nới room, cơn khát vốn giải tỏa

Hôm đầu tuần, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức quyết định điều chỉnh hạn mức tăng trưởng tín dụng (room) định hướng năm 2022 thêm khoảng 1,5 - 2% cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Theo NHNN, việc điều chỉnh room như trên được thực hiện trong bối cảnh tình hình tác động từ bên ngoài dịu bớt, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng cải thiện hơn.

Tín hiệu tích cực từ nới room, tỷ giá vào giai đoạn giảm sâu
Dù nới room, nhưng dòng vốn vẫn được kiểm soát qua chất lượng tín dụng và đối tượng vay vốn. Ảnh. T.L
Xuất hiện tín hiệu tích cực cho tỷ giá, lãi suất tiền gửi vẫn khá nóng

Nguyên tắc điều chỉnh room cho các tổ chức tín dụng theo hướng, các tổ chức tín dụng có thanh khoản tốt hơn, lãi suất thấp hơn sẽ được tăng trưởng tín dụng cao hơn.

Nới tín dụng nhưng vẫn phải chú ý kiểm soát rủi ro

Thống đốc NHNN lưu ý các ngân hàng mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc kiểm soát rủi ro kỳ hạn để đảm bảo thanh khoản, an toàn hoạt động, đảm bảo khả năng chi trả cho doanh nghiệp và người dân, nhất là dịp Tết Nguyên đán.

Thống đốc cũng yêu cầu NHNN theo dõi sát diễn biến tình hình, có giải pháp hỗ trợ thanh khoản kịp thời qua các kênh, trường hợp cần thiết hỗ trợ với kỳ hạn dài hơn, kể cả kéo dài thời hạn qua Tết để các tổ chức tín dụng yên tâm hơn khi cấp tín dụng.

Sau thời điểm nới room, NHNN cho biết, tăng trưởng tín dụng đến thời điểm này đã đạt 12,2% so với cuối năm 2021. Theo đó, room còn lại khá dồi dào với khoảng 3,8%, tạo dư địa khá lớn cho các ngân hàng thương mại cung ứng vốn cho các doanh nghiệp, nền kinh tế.

Theo bình luận của các nhà chuyên môn, nới room cũng sẽ chỉ là một trong những giải pháp và dòng vốn cũng sẽ không vì thế mà “ồ ạt” đổ ra nền kinh tế. Bởi lẽ, định hướng tín dụng của NHNN vẫn đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng tín dụng và đối tượng cho vay.

Thống đốc NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng cân đối vốn phù hợp để cấp tín dụng, tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ… Do đó, cơ hội cho các kênh đầu cơ như chứng khoán, bất động sản… cũng vẫn chưa rõ ràng từ việc nới room lần này.

Các ngân hàng kêu gọi đồng thuận giữ mặt bằng lãi suất

Cùng với việc nới room, các ngân hàng vẫn còn khá thận trọng trong việc cân đối dòng tiền, đồng thời có sự nhất quán để giữ mặt bằng lãi suất. Trong tuần vừa qua, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã họp với đại diện các tổ chức tín dụng hội viên để bàn về vấn đề ổn định lãi suất và các giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2022.

Tín hiệu tích cực từ nới room, tỷ giá vào giai đoạn giảm sâu
Tỷ giá giảm mạnh sẽ là tín hiệu thuận lợi cho việc ổn định lãi suất. Ảnh: T.L

Theo VNBA, trong bối cảnh hiện nay, nhằm tiếp tục ổn định thị trường tiền tệ, các ngân hàng cần đồng thuận giữ mặt bằng lãi suất ổn định để đảm bảo an toàn hệ thống và hỗ trợ giảm lãi suất cho vay doanh nghiệp, người dân cũng như hỗ trợ nhau nguồn lực để thanh khoản hệ thống thông suốt. Bên cạnh đó, các ngân hàng được khuyến nghị cần trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, đẩy mạnh truyền thông để dư luận hiểu và chia sẻ hoạt động kinh doanh ngân hàng. VNBA cũng kiến nghị NHNN tiếp tục có những thông điệp cụ thể đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, tạo sự an tâm hoạt động an toàn, hiệu quả.

Tỷ giá bước vào giai đoạn giảm mạnh hơn

Sau giai đoạn giảm từ từ trong suốt tháng 11 và đầu tháng 12/2022, tỷ giá đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ có động thái giảm mạnh hơn tại các ngân hàng thương mại trong tuần vừa qua.

Ngay phiên đầu tuần, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank đã giảm tới 170 đồng mỗi Đô la, mặc dù sau đó có tăng vào phiên hôm thứ ba, nhưng sau đó tiếp tục chuỗi ngày giảm điểm mạnh liên tiếp từ thứ tư đến thứ sáu. Đến chiều thứ sáu ngày 9/12, tỷ giá USD tại Vietcombank ghi nhận mức 23.360/23.390/23.670 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra). Mức tỷ giá niêm yết tại Vietcombank thời điểm chiều ngày 9/12 theo đó đã thấp hơn tới 570 đồng mỗi Đô la so với cách đó 1 tuần.

Tăng cường vai trò của thị trường mở

Hiệp hội Ngân hàng đề xuất NHNN tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng qua tăng cường các công cụ thị trường mở (OMO)…, ưu tiên đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của các ngân hàng qua kênh OMO. Giải pháp này kỳ vọng làm giảm áp lực dự phòng thanh khoản cao của ngân hàng, góp phần làm giảm lãi suất giao dịch liên ngân hàng cũng như giảm lãi suất huy động từ khách hàng.

Trong khi đó, các số liệu tỷ giá niêm yết từ NHNN cũng diễn biến theo chiều hướng đi xuống, nhưng với mức độ giảm chậm hơn. Tỷ giá USD được điều chỉnh giảm nhẹ qua từng phiên, trong khi tỷ giá USD tham khảo tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước đã có một lần điều chỉnh giảm 10 đồng mỗi USD giá bán ra, ghi nhận mức 24.830 đồng/USD.

Việc tỷ giá liên tục giảm thời gian qua đã giải tỏa sức ép đáng kể đối với thị trường tiền tệ, giúp cho ngành Ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc điều hành các chính sách tiền tệ linh hoạt hơn. Giới kinh doanh kỳ vọng với xu hướng ổn định của tỷ giá, lãi suất cũng sẽ dần dịu bớt, giảm bớt áp lực về chi phí tài chính cho doanh nghiệp.

Giá vàng trong nước tăng nhẹ hơn thế giới

Đầu tuần, giá vàng 9999 của SJC tại Hà Nội tăng 200 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và chiều bán ra so với kết thúc phiên giao dịch cuối tuần trước. Cụ thể, giá vàng 9999 được Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) cập nhật sáng hôm 5/12 là 66,35 triệu đồng/lượng mua vào và 67,17 triệu đồng/lượng bán ra.

Giá vàng trong nước sau đó quay đầu giảm chỉ sau đó 1 ngày, đứng giá trong ngày tiếp theo và tăng trong 2 ngày cuối tuần. Giá vàng SJC tại Hà Nội hôm 9/12 ghi nhận ở mức 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,32 triệu đồng/lượng bán ra, ghi nhận cao hơn hôm đầu tuần khoảng 150 nghìn đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới giao ngay hôm 9/12 đứng quanh ngưỡng 1.793,7 USD/ounce, tăng 5,7 USD/ounce so với đêm hôm trước. Giá vàng giao tương lai tháng 2/2023 trên sàn Comex New York ở mức 1.805,1 USD/ounce, tăng 8,1 USD/ounce so với đêm hôm trước.

Xu hướng chung của thị trường vàng cho thấy diễn biến giá vàng thế giới đang tăng khá mạnh do sức cầu đối với mặt mặt hàng kim loại quý lên cao. Tuy nhiên, giá vàng trong nước tăng chậm do tỷ giá đồng USD trong nước suy giảm nhanh./.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

(TBTCO) - Sáng ngày 23/5, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, tăng 3 đồng tuần qua. USD tự do giao dịch phổ biến quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng sau nhiều tuần giảm sâu. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần quanh 99,3 điểm, tăng nhẹ 0,02% tuần qua, áp lực lãi suất tiếp tục gia tăng khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 21/5, tỷ giá trung tâm được giữ ở mức 25.135 đồng, trong khi USD tự do tăng lên quanh 26.500 đồng. DXY duy trì quanh 99,11 điểm, gần vùng cao nhất nhiều tuần do kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn. Cùng lúc, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt lên mức cao nhất nhiều thập kỷ, khiến giới đầu tư toàn cầu chú ý.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80