Thị trường tiền tệ tuần 28/11-2/12:

Xuất hiện tín hiệu tích cực cho tỷ giá, lãi suất tiền gửi vẫn khá nóng

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến vĩ mô tuần qua xuất hiện nhiều thông tin cho thấy nguồn cung USD dồi dào, đây là những tín hiệu có lợi cho tỷ giá. Lãi suất diễn biến khá khác nhau giữa các thị trường, khi lãi suất liên ngân hàng giảm ở các kỳ hạn ngắn, nhưng lãi suất trên thị trường tiền gửi dân cư vẫn khá nóng.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm ở kỳ hạn ngắn

Diễn biến lãi suất liên ngân hàng trong các kỳ hạn ngắn có xu hướng giảm trong tuần vừa qua. Cụ thể, so sánh lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng hôm 30/11 chỉ còn 5,32%, thấp hơn mức lãi suất 5,88% của kỳ hạn này hôm 28/11. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần hôm 30/11 cũng chỉ còn 5,83% so với mức 6,2% so với trước đó 2 ngày.

Xuất hiện tín hiệu tích cực cho tỷ giá, lãi suất tiền gửi vẫn khá nóng
Càng về cuối năm, các diễn biến tiền tệ càng được quan tâm nhiều hơn. Ảnh: T.L
Thị trường tiền tệ tuần 21-25/11: Có ngân hàng giảm lãi suất, tỷ giá tiếp tục đi xuống

Mặc dù vậy, mặt bằng lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức khá cao. Tính đến hiện tại, mức lãi suất phổ biến cho kỳ hạn trên 6 tháng ở các ngân hàng thương mại cổ phần đã được đẩy lên vùng 8,5% - 9%/năm. Mặt bằng lãi suất này còn chưa tính đến các mức khuyến mại dành cho những khoản tiền gửi giá trị lớn. Saigon Bank hiện là ngân hàng niêm yết lãi suất cao nhất thị trường là 10,5%/năm cho kỳ hạn 13 tháng, áp dụng cho tiền gửi trực tuyến.

Xuất hiện các yếu tố tích cực cho tỷ giá

Tuần qua tiếp tục ghi nhận giai đoạn tỷ giá liên tục giảm. Tỷ giá USD trung tâm do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành ghi nhận sự giảm điểm đều đặn với biên độ khá nhẹ, trong khi đó, các ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm với mức giảm nhanh và mạnh hơn.

Trong tuần qua, Tổng cục Thống kê cũng công bố báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2022 với diễn biến tình hình xuất nhập khẩu và đầu tư nước nước ngoài đều có các thông tin có lợi cho tỷ giá.

Diễn biến xuất nhập khẩu có lợi cho tỷ giá

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2022 đạt 29,18 tỷ USD, giảm 3,9% so với tháng trước và giảm 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 342,21 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2022 đạt 28,4 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng trước và giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 331,61 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước.

Với diễn biến này, tháng 11 ước tính xuất siêu 0,78 tỷ USD.

Tính chung 11 tháng năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 10,6 tỷ USD (đây là mức xuất siêu lớn hơn khá nhiều so với mức 0,6 tỷ USD cùng kỳ năm trước). Trong khi đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 11 tháng năm 2022 ước tính đạt 19,68 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 11 tháng trong 5 năm qua.

Tình hình thặng dư thương mại lớn và vốn đầu tư nước ngoài giải ngân tăng mạnh thể hiện nguồn cung USD khá dồi dào; qua đó, dự báo tỷ giá sẽ vẫn tiếp tục ổn định trong thời gian tới.

Hoạt động thanh toán vào “tầm ngắm” của cơ quan giám sát

Mùa World Cup tuần qua bước vào lượt trận cuối cùng vòng bảng cũng là lượt trận có tính chất gay cấn hơn, báo hiệu rủi ro cá độ bóng đá cũng có thể gia tăng, trong đó có việc có thể hoạt động thanh toán bị lợi dụng cho cá độ.

Xuất hiện tín hiệu tích cực cho tỷ giá, lãi suất tiền gửi vẫn khá nóng
Việc sử dụng các dịch vụ thanh toán phục vụ cho cá độ bóng đá có thể gia tăng trong mùa World Cup. Ảnh: T.L

Trong bối cảnh này, NHNN đã phải nhắc nhở các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các tổ chức tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn; phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ lợi dụng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán để đánh bạc, tổ chức đánh bạc, cá độ bất hợp pháp, đặc biệt là trong thời gian diễn ra giải bóng đá thế giới World Cup 2022.

Trong đó, NHNN yêu cầu các đơn vị chú trọng các biện pháp quản lý chặt chẽ việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ví điện tử; rà soát các tiêu chí giám sát, các hạn mức giao dịch, cập nhật các dấu hiệu đáng ngờ…

Giá vàng: Nhiều phiên giảm, nhưng mức giảm không lớn

Giá vàng trong nước giảm liên tục trong một số ngày đầu tuần, chỉ tăng một phiên hôm thứ năm và sau đó lại quay đầu giảm cuối tuần.

Giá vàng hôm đầu tuần (28/11) được các doanh nghiệp niêm yết mua vào 66,6 triệu đồng/lượng, bán ra 67,4 triệu đồng/lượng, giảm 200 đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Ngày 29/11, giá vàng SJC tại Hà Nội tiếp tục giảm xuống mức còn 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,32 triệu đồng/lượng bán ra; tiếp đà giảm trong ngày 30/11 với mức giá chỉ còn 66,4 triệu đồng/lượng mua vào và 67,22 triệu đồng/lượng bán ra.

Diễn biến tài chính quốc tế có lợi cho giá vàng

Trong khi đó, diễn biến thị trường tài chính thế giới vẫn có xu hướng có lợi cho giá vàng khi các chuyên gia phân tích cho rằng kim loại quý vẫn đang được hưởng lợi từ việc USD bị bán tháo kéo dài khi các dữ liệu kinh tế vĩ mô của Mỹ tốt lên. Cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) tháng 11/2022 chỉ tăng 6%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với 6,3% trong tháng trước.

Mặc dù vậy, giá vàng ghi nhận sự phục hồi vào sáng ngày 1/12, giá vàng miếng SJC niêm yết tại Hà Nội là 66,6 triệu đồng/lượng mua vào và 67,42 triệu đồng/lượng bán ra. Ngày 2/12, giá vàng lại quay đầu giảm xuống chỉ còn 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,32 triệu đồng/lượng bán ra.

Quan sát chung trong cả tuần, số lượng những phiên giảm điểm của giá vàng nhiều hơn số ngày tăng giảm, nhưng so sánh giá vàng trong 1 tuần ghi nhận mức giảm khá nhẹ với giá mua vào vẫn xấp xỉ cuối tuần trước, còn giá bán ra chỉ thấp hơn khoảng 180 đồng/lượng.

Động thái vàng trong nước chưa thể hiện rõ xu hướng do giá vàng trong nước đang chịu tác động cùng lúc nhiều yếu tố khác nhau. Diễn biến đồng USD giảm có thể tạo hiệu ứng tích cực cho giá vàng có thể tăng, nhưng hiện tại, dòng tiền hiện vẫn khá kham hiếm do kênh tín dụng vẫn bị thắt chặt nên nhà đầu tư chưa mạnh tay rót tiền cho các tài sản có tính tích trữ như vàng, bất động sản.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 15/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.642 đồng, USD ngân hàng cũng giảm nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,49% xuống 102,05 điểm, sau phiên tăng nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ. CPI tháng 9 tăng 3,7%, vượt dự báo, khiến xác suất Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 10 tăng vọt lên 53%.
Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 14/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng lên 25.646 đồng, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng giảm. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 102,18 điểm. Thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ, khi một số nhà phân tích nhận định CPI lõi tăng 0,4% trong tháng 9 có thể khiến Fed đẩy sớm quyết định tăng lãi suất lên tháng 10.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 10/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng, giảm 7 đồng so với cuối tuần trước; tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, trái chiều với mức tăng 220 đồng trên thị trường tự do. Chỉ số DXY chốt tuần ở 102,22 điểm, tăng 0,28%, cao nhất kể từ đầu tháng 4/2025. Thị trường đang chờ báo cáo lạm phát của Mỹ tuần tới.
Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 9/10, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.629 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng giảm mạnh tới 80 đồng, còn chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 102,11 điểm. Thống đốc Fed Christopher Waller để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất trong tháng 10, dù vẫn cho rằng có thể cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 7/10, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.645 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY giảm 0,25% xuống 101,85 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để tìm thêm tín hiệu chính sách.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,090 14,390
Miếng SJC Nghệ An 14,090 14,390
Miếng SJC Thái Bình 14,090 14,390
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,409 14,392
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,409 14,393
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,404 1,434
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,404 1,435
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,379 1,424
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,399 14,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,161 106,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,192 96,992
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,223 87,023
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,378 83,178
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,737 59,537
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,409 1,439
Cập nhật: 17/10/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18342
CAD 17762 18036 18656
CHF 30820 31197 31836
CNY 0 3830 3926
EUR 28519 28736 29819
GBP 33730 34119 35056
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14361 14951
SGD 19703 19984 20557
THB 690 753 807
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 17/10/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30