Tín dụng tăng nóng nhưng vòng quay tiền giảm, rủi ro “lạm phát giá tài sản” càng rõ nét

Ánh Tuyết
Báo cáo của BSC cho thấy, tín dụng toàn hệ thống dự kiến duy trì mức tăng 18 - 20% trong năm 2025 - 2026, kéo tỷ lệ tín dụng/GDP lên trên 140%. Tuy nhiên, rủi ro tỷ giá, lãi suất và lạm phát đang tích tụ khi cung tiền mở rộng, nhưng vòng quay tiền giảm và dòng vốn lệch sang bất động sản, vàng gây “lạm phát giá tài sản”.
aa

Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% "Gạn đục, khơi trong" dòng tín dụng bất động sản Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể

Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản

Trong báo cáo triển vọng ngành ngân hàng mới cập nhật, nhóm phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) cho biết, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống đạt khoảng 20% so với cùng kỳ tại cuối quý III/2025 và được dự báo sẽ kết thúc năm 2025 với mức tăng 18 - 20%, dự kiến duy trì mức tương đương năm 2026.

Tín dụng bùng nổ, song rủi ro tỷ giá và lãi suất tích tụ

Theo nhóm phân tích BSC, tính từ đầu năm đến cuối quý III/2025, ước tính tín dụng toàn nền kinh tế tăng khoảng 13,4% so với đầu năm, tương ứng quy mô hơn 17,7 triệu tỷ đồng. Riêng tín dụng đối với lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt hơn 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 25,4% từ đầu năm và 36,7% so với cùng kỳ, đưa tỷ trọng tín dụng bất động sản lên mức cao lịch sử 10,4% tổng dư nợ.

Nhóm ngân hàng có tỷ trọng cho vay chủ đầu tư cao như: Techcombank, VPBank... tiếp tục là nhóm hưởng lợi. Đây cũng là nhóm dẫn đầu về tăng trưởng dư nợ, điển hình như VPBank ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng riêng lẻ tới 29% từ đầu năm đến cuối quý III và dự kiến đạt 35% tại cuối năm 2025, mức cao nhất lịch sử ngân hàng và cao nhất toàn ngành.

Còn nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận hưởng lợi nhờ bối cảnh đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và phát triển hạ tầng.

Tín dụng tăng nóng nhưng vòng quay tiền giảm, rủi ro “lạm phát giá tài sản” càng rõ nét

Dự báo dư nợ tín dụng/GDP trên 140% GDP

Nhìn chung, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế tham vọng của Chính phủ, BSC kì vọng Ngân hàng Nhà nước vẫn sẽ tiếp tục duy trì định hướng nói lỏng tiền tệ đến hết 2025 và dần thận trọng hơn trong 2026. Tỷ lệ tín dụng/GDP dự báo vẫn sẽ duy trì trên 140% đến hết năm 2025, duy trì một môi trường thuận lợi cho thị trường tài sản tài chính.

Tuy nhiên, BSC nhận thấy rủi ro đang dần tích lũy trong hệ thống về tỷ giá, lạm phát và lãi suất, từ đó, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2026.

Theo đó, cơ cấu cung tiền M2 đang dịch chuyển, việc tăng mạnh cung tiền VND gây áp lực lên tỷ giá, nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho các thị trường tài sản như chứng khoán tăng trưởng.

Việc Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh bơm tiền thông qua tín dụng trong khi duy trì lãi suất liên ngân hàng ở mức rất thấp (giao dịch hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn qua đêm quanh mức 0,17%) đã gây sức ép rõ rệt lên tỷ giá USD/VND.

Các dòng vốn mang tính kinh doanh chênh lệch giá có xu hướng rút ra khỏi Việt Nam, gây ra sự phân hóa chưa từng thấy trong 10 năm qua, khi tỷ giá USD/VND tăng 3,4% trong khi chỉ số DXY giảm 8,9%. Điều này khiến Ngân hàng Nhà nước đã phải can thiệp hai lần với tổng quy mô gần 3 tỷ USD thông qua bán ngoại tệ kỳ hạn 6 tháng để ổn định thị trường, vào ngày 25-26/8 và ngày 1/10.

Tỷ trọng của cấu phần tài sản thuần (NFA) giảm liên tục từ năm 2023 và dự kiến tiếp tục giảm trong giai đoạn 2025 - 2026.

"Dòng tiền chảy ra nước ngoài để đầu tư tiền mã hóa cũng đóng góp vào xu hướng này, khiến lỗi và sai sót gia tăng đáng kể (từ 2022 đến nay) trên cán cân thanh toán theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)" - nhóm phân tích BSC đánh giá.

Theo Chainalysis, Việt Nam đứng thứ tư toàn cầu về mức độ chấp nhận tài sản mã hóa, với tổng giá trị giao dịch on-chain crypto (được ghi lại và xác minh) đạt hơn 200 tỷ USD trong giai đoạn tháng 7/2024 - 6/2025, tương đương 45% GDP danh nghĩa.

BSC cho rằng, đây là lý do trọng yếu khiến Chính phủ tiến tới hợp thức hóa tài sản mã hóa, cho phép thí điểm sàn giao dịch trong nước và xử phạt nhà đầu tư tiếp tục giao dịch qua sàn nước ngoài sau 6 tháng kể từ thời điểm có đơn vị trong nước được cấp phép. Mục tiêu là hạn chế dòng tiền chảy ra nước ngoài không chính thức và bảo vệ sự ổn định của tỷ giá.

Tín dụng tăng mạnh nhưng vòng quay tiền giảm

Đáng chú ý, theo BSC, dù tăng trưởng tín dụng ở mức cao, tuy nhiên, hệ số vòng quay tiền tiếp tục giảm, cho thấy dòng tiền trong nền kinh tế chậm lại và nhiều khả năng đang dịch chuyển vào các kênh tài sản như bất động sản và vàng thay vì chi tiêu, phù hợp với diễn biến giá tài sản hiện nay.

Trong bối cảnh cơ quan điều hành tiếp tục duy trì định hướng chính sách tiền tệ nới lỏng và thị trường bất động sản "nóng" lên về cả giá và lượng giao dịch.

Tín dụng tăng nóng nhưng vòng quay tiền giảm, rủi ro “lạm phát giá tài sản” càng rõ nét
Nguồn: BSC.
Hệ số vòng quay tiền trong phương trình MV = PQ giảm liên tục từ năm 2022, hiện ước đạt 0,63 lần tại cuối quý III/2025, hàm ý dòng tiền lưu thông chậm và ưu tiên đầu tư tài sản hơn tiêu dùng. Thay vì giao dịch và chi tiêu, dòng tiền có thể đang được đổ vào các kênh đầu tư tài sản, phổ biến nhất có lẽ là vàng và bất động sản, nhất quán với bức tranh giá tài sản hiện tại.

Hiện tượng “lạm phát giá tài sản” khá rõ nét dù chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn nằm trong vùng kiểm soát, một phần do cơ cấu rổ hàng hóa của CPI chưa được cập nhật kịp thời.

Ước lượng mô hình của Ngân hàng Nhà nước cho thấy cứ 1 điểm phần trăm tăng trưởng tín dụng có thể đẩy CPI tăng thêm 0,22 điểm phần trăm với độ trễ 12 - 18 tháng.

Trong khi đó, sử dụng số liệu thống kê mức lương của người lao động từ Cục Thống kê (danh nghĩa, chưa điều chỉnh lạm phát), BSC ước tính mức chênh lệch giữa GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành và thu nhập bình quân người lao động ngày càng được nới rộng rõ rệt từ sau Covid-19. Diễn biến này nhất quán với bức tranh của thị trường tiêu dùng bán lẻ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼150K 15,050 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼150K 15,000 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼150K 16,050 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼150K 16,000 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼150K 15,980 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,390 ▼150K 16,090 ▼150K
Trang sức 99.99 15,400 ▼150K 16,100 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼2K 16,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼2K 16,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,588 ▼15K 1,618 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,588 ▼15K 1,619 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,568 ▼15K 1,603 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,213 ▼1485K 158,713 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,487 ▼1125K 120,387 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,265 ▼1020K 109,165 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,043 ▼915K 97,943 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,714 ▼875K 93,614 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,102 ▼625K 67,002 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1454K 162 ▼1476K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cập nhật: 20/05/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18171 18446 19021
CAD 18631 18908 19523
CHF 32723 33108 33751
CNY 0 3830 3922
EUR 29942 30215 31241
GBP 34500 34892 35822
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15037 15625
SGD 20018 20301 20827
THB 721 784 837
USD (1,2) 26098 0 0
USD (5,10,20) 26140 0 0
USD (50,100) 26168 26188 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,151 26,151 26,391
USD(1-2-5) 25,105 - -
USD(10-20) 25,105 - -
EUR 30,030 30,054 31,321
JPY 161.1 161.39 170.19
GBP 34,623 34,717 35,724
AUD 18,345 18,411 19,005
CAD 18,784 18,844 19,435
CHF 32,939 33,041 33,837
SGD 20,109 20,172 20,854
CNY - 3,791 3,915
HKD 3,295 3,305 3,424
KRW 16.07 16.76 18.14
THB 767.13 776.6 827.76
NZD 15,002 15,141 15,503
SEK - 2,750 2,833
DKK - 4,019 4,138
NOK - 2,789 2,873
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,183.51 - 6,941.47
TWD 750.36 - 904.13
SAR - 6,899.77 7,228.26
KWD - 83,539 88,407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18367 18467 19389
CAD 18813 18913 19929
CHF 32978 33008 34590
CNY 3809.4 3834.4 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30128 30158 31881
GBP 34790 34840 36597
HKD 0 3355 0
JPY 162.27 162.77 173.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15144 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20178 20308 21034
THB 0 750.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15950000 15950000 16250000
SBJ 14000000 14000000 16250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,391
USD20 26,185 26,235 26,391
USD1 23,879 26,235 26,391
AUD 18,391 18,491 19,608
EUR 30,264 30,264 31,687
CAD 18,753 18,853 20,167
SGD 20,245 20,395 21,320
JPY 162.69 164.19 168.78
GBP 34,668 35,018 36,160
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80