Xem xét cấp phép sản xuất vàng miếng mở đường tăng cung, thêm dư địa cho vàng trang sức

(TBTCO) - Giá vàng trong nước vẫn chênh lệch lớn so với thế giới, thị trường thiếu minh bạch và vẫn tiềm ẩn rủi ro. Sau hơn 1 tháng Nghị định 232/2025/NĐ-CP có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng của một số đơn vị và đang xem xét. Cùng lúc, nhiều ý kiến đề xuất nghiên cứu mô hình sàn giao dịch vàng và khuyến khích phát triển vàng trang sức mỹ nghệ mở rộng nguồn cung hợp pháp.
aa
Nhập khẩu vàng miếng bị quản chặt, năm 2025 vẫn được xem xét cấp hạn mức Trình Quốc hội quy định mới về thuế với chuyển nhượng vàng miếng Rút ngắn lộ trình sàn vàng quốc gia, "đánh thức" hàng trăm tấn vàng trong dân

Ngày 18/11, Báo Tiền Phong tổ chức tọa đàm với chủ đề: “Sàn giao dịch vàng: Minh bạch thị trường và ổn định kinh tế vĩ mô”.

Thị trường vàng vẫn còn nhiều "nút thắt"

Phát biểu tại toạ đàm, ông Phùng Công Sưởng - Tổng biên tập Báo Tiền Phong nhấn mạnh, nhiều năm qua, thị trường vàng Việt Nam liên tục ở trạng thái nhạy cảm, giá vàng biến động mạnh, chênh lệch với thế giới trên 20 triệu đồng/lượng; cầu vượt cung; giao dịch không chính thức diễn ra phổ biến, khiến thị trường thiếu minh bạch và tiềm ẩn rủi ro đối với người dân, doanh nghiệp.

Việc giá bị đẩy lên quá cao so với thế giới không chỉ tạo cơ hội cho đầu cơ, thao túng mà còn gây sức ép lên điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ mô.

Nghị định số 232/2025/NĐ-CP
Toàn cảnh tọa đàm “Sàn giao dịch vàng: Minh bạch thị trường và ổn định kinh tế vĩ mô”. Ảnh: Báo Tiền Phong.

Nhìn lại bất cập trong quản lý thị trường vàng trong nước vừa qua, ông Nguyễn Đức Lê - Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho rằng, với vàng chế tác, vàng trang sức tiêu dùng, nguồn cung tương đối đáp ứng đủ, chỉ riêng vàng miếng là nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu rất cao, tạo ra “nút thắt cổ chai”.

Đại diện Bộ Công thương nêu rõ thực tế, qua quá trình kiểm tra thực tế cho thấy một số cửa hàng niêm yết một giá nhưng bán giá khác. Bên cạnh đó, khi nguồn cung khan hiếm, một số doanh nghiệp găm hàng đầu cơ, làm giá. Trong khi đó, lực lượng quản lý có hạn trong khi cửa hàng nhỏ lẻ rất nhiều, quá phân tác, không thể quản lý được, dẫn tới tình trạng thiếu minh bạch.

Thời gian qua, Bộ Công thương phối hợp Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, giám sát thị trường vàng; tham gia các đoàn thanh tra của Ngân hàng Nhà nước tại các cơ sở kinh doanh vàng miếng và ghi nhận 7 khó khăn lớn.

Theo đó, cơ quan quản lý thiếu cơ sở quản lý tập trung khi phần lớn tiệm vàng hoạt động phân mảnh, bán lẻ, không kết nối trực tiếp với cơ quan quản lý, không quản lý được tồn kho nên khó đánh giá mức độ găm hàng, đầu cơ.

Bên cạnh đó, khó kiểm soát chất lượng và nguồn cung khi trên thị trường vẫn xuất hiện giao dịch trôi nổi, vàng giả, vàng không đủ tuổi... Nhiều trường hợp kiểm tra phải sử dụng máy móc để xác định, nguy cơ vàng giả lẫn vàng thật rất lớn.

Đáng lưu ý, sự tồn tại của thị trường chợ đen cùng với chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế làm phát sinh buôn lậu vàng qua biên giới, tình trạng giao dịch không hóa đơn, giấu doanh thu để trốn thuế vẫn diễn ra thường xuyên.

"Những giao dịch này không được báo cáo nên không phản ánh đúng cung cầu, khiến cơ quan quản lý khó quản lý, khó dự báo" - ông Lê nhấn mạnh.

Cùng với đó, chưa có cơ chế giám sát đồng bộ giữa các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương, Bộ Công an...; dữ liệu chưa liên thông, không có hệ thống cảnh báo sớm biến động bất thường. Khi thị trường vàng biến động mạnh, việc kiểm tra theo từng đợt khiến phản ứng quản lý chậm hơn diễn biến thị trường.

Từ những phân tích trên, thị trường vàng còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, người dân phải chịu nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ...

Đại diện cơ quan hải quan, ông Phan Quốc Đông - Phó Chi cục trưởng, Chi cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cũng cho biết, do điều kiện địa lý với đường biên dài hơn 4.000 km nhưng với có 157 cửa khẩu và 88 điểm kiểm soát khiến nguy cơ buôn lậu vàng luôn hiện hữu. Khi giá vàng trong nước chênh lệch và nhu cầu tăng, rủi ro buôn lậu càng lớn.

Hiện cơ quan hải quan cũng chưa ghi nhận xuất khẩu vàng chính thức theo quy định mới. Từ đầu năm, có 65 hồ sơ nhập khẩu (26 triệu USD) và 22 hồ sơ xuất khẩu (4,2 tỷ USD), chủ yếu là vàng gia công, vàng trong linh kiện điện tử.

Nghiên cứu sàn giao dịch vàng, khuyến khích phát triển vàng trang sức

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Hùng Sơn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải, Tổng Thư ký Hiệp hội Kinh doanh Vàng giãi bày, suốt 13 năm qua, doanh nghiệp kinh doanh vàng không có cơ chế tiếp cận nguồn nguyên liệu vàng chính thức. Vàng khai thác trong nước chỉ là vàng mỏ nhỏ, khai thác được bao nhiêu đều sử dụng hết, không tạo ra nguồn cung cho doanh nghiệp.

Nghị định số 232/2025/NĐ-CP
Đại diện doanh nghiệp kiến nghị đưa vàng trang sức ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong Luật Đầu tư. Ảnh: Báo Tiền Phong.

Trần tình về cảnh khách phải xếp hàng dài chỉ để mua 1 - 2 chỉ thời gian qua, lãnh đạo Bảo Tín Mạnh Hải cho biết, doanh nghiệp không hề mong muốn điều đó; nhưng nếu để mua bán tự do, sẽ có người đầu cơ muốn gom 100 - 200 cây, trong khi người dân bình thường sẽ không thể mua được.

Đề cập đến vấn đề quản lý vàng trang sức, mỹ nghệ, ông Sơn cho rằng không nên quản lý quá chặt, đây là lĩnh vực có yếu tố tiêu dùng, làm đẹp, không ảnh hưởng an ninh, chính trị, quốc phòng thì không cần đưa vào danh mục kinh doanh có điều kiện.

"Làm thế nào khuyến khích Việt Nam có thể trở thành trung tâm chế tác hàng đầu, định hướng có thể xuất khẩu" - ông Sơn kiến nghị.

Đang xem xét cấp phép đơn vị kinh doanh vàng miếng

Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, Thông tư 34 đã hướng dẫn cụ thể hồ sơ, trình tự thủ tục cấp phép sản xuất vàng miếng, xuất khẩu, nhập khẩu vàng. Hiện Ngân hàng Nhà nước đã nhận được hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng của một số đơn vị và đang xem xét thực hiện cấp phép theo đúng quy định tại Nghị định 232.

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) và có hiệu lực từ ngày 10/10 hoàn thiện thêm khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh vàng.

Câu hỏi có cần thiết hình thành một sàn giao dịch vàng trở thành chủ đề nhận được nhiều ý kiến quan tâm. Nhiều chuyên gia cho rằng mô hình sàn vàng tập trung, hiện đại, có cơ chế giám sát chặt chẽ có thể giúp minh bạch thị trường, giảm chênh lệch giá bất hợp lý, hạn chế đầu cơ, thao túng, bảo vệ nhà đầu tư và hỗ trợ cơ quan quản lý trong điều hành cung - cầu.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho rằng, việc chấm dứt cơ chế Nhà nước độc quyền thương hiệu vàng miếng, mở rộng đối tượng sản xuất vàng miếng, xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng và nhập khẩu vàng nguyên liệu sẽ giúp nguồn cung vàng trên thị trường đa dạng hơn. Để triển khai thi hành Nghị định 232, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 34/2025/TT-NHNN ngày 09/10/2025 (Thông tư 34), cùng có hiệu lực từ ngày 10/10/2015 và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để quản lý thị trường vàng theo cơ chế mới.

Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các bộ có liên quan nghiên cứu về sàn giao dịch vàng tại Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước sẽ có tờ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về sàn giao dịch vàng, đề xuất với Chính phủ giao các bộ, ngành có liên quan để xử lý các vấn đề phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,040 ▲100K 14,640 ▲100K
Trang sức 99.99 14,050 ▲100K 14,650 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1284K 14,702 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1284K 14,703 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▲12K 1,466 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1257K 1,455 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▲1188K 144,059 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▲900K 109,286 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼87591K 991 ▼97293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲732K 88,914 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▲700K 84,985 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼45426K 6,083 ▼54246K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1284K 147 ▼1311K
Cập nhật: 18/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18012 18287 18863
CAD 18065 18340 18957
CHF 30924 31301 31947
CNY 0 3839 3935
EUR 29237 29457 30536
GBP 33963 34352 35287
HKD 0 3183 3385
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14597 15182
SGD 19846 20128 20695
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26181
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,269 29,292 30,682
JPY 161.95 162.24 172.05
GBP 34,119 34,211 35,392
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,242 18,301 18,978
CHF 31,153 31,250 32,174
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,803 3,948
HKD 3,248 3,258 3,394
KRW 17.33 18.07 19.66
THB 745.58 754.79 808.17
NZD 14,550 14,685 15,124
SEK - 2,603 2,695
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,714 2,810
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,944.07 - 6,709.13
TWD 736.89 - 892.77
SAR - 6,803.01 7,170.41
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30