Dư địa tăng trưởng dài hạn mở ra cho ngành bảo hiểm Việt Nam

Thu Hương
(TBTCO) - Sau giai đoạn điều chỉnh mạnh về niềm tin và kênh phân phối, ngành bảo hiểm Việt Nam đang từng bước phục hồi theo hướng thận trọng, trong bối cảnh tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm vẫn ở mức thấp so với khu vực, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng dài hạn cho toàn ngành.
aa

Ngành bảo hiểm còn nhiều dư địa

Theo đánh giá của các chuyên gia phân tích từ Chứng khoán Vietcap, triển vọng ngành bảo hiểm Việt Nam trong năm 2026 được nhìn nhận theo hướng phục hồi thận trọng nhưng bền vững hơn, sau giai đoạn điều chỉnh mạnh về niềm tin và kênh phân phối.

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của thị trường là tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm vẫn đang ở mức thấp so với khu vực, phản ánh dư địa tăng trưởng dài hạn còn khá lớn. Tính đến năm 2024, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm tại Việt Nam đạt khoảng 1,20% đối với bảo hiểm nhân thọ và 0,80% đối với bảo hiểm phi nhân thọ, thấp hơn đáng kể so với các thị trường như Thái Lan và Malaysia.

Dư địa tăng trưởng dài hạn mở ra cho ngành bảo hiểm Việt Nam
Nguồn: Vietcap.

Trong giai đoạn 2017 - 2022, toàn ngành bảo hiểm ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép khoảng 23%, chủ yếu được thúc đẩy bởi mảng bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, đà tăng trưởng này đã bị gián đoạn trong năm 2023 khi thị trường đối mặt với cuộc khủng hoảng liên quan đến kênh phân phối bancassurance. Những sai phạm trong hoạt động bán hàng đã tác động tiêu cực đến niềm tin khách hàng, kéo theo sự sụt giảm doanh thu phí bảo hiểm, đặc biệt ở mảng nhân thọ.

“Giai đoạn điều chỉnh này mang tính tất yếu, góp phần tái định hình lại thị trường theo hướng minh bạch và bền vững hơn, với trọng tâm là nâng cao chất lượng tư vấn và kỷ luật bán hàng” – các chuyên gia nhấn mạnh.

Theo phân tích của Chứng khoán Vietcap, việc lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm có xu hướng tăng sẽ kéo theo lãi suất chiết khấu kỹ thuật cải thiện, qua đó giúp giảm áp lực trích lập dự phòng và hỗ trợ hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

Diễn biến thị trường cho thấy, tăng trưởng phí bảo hiểm đã tạo đáy trong năm 2024 và bắt đầu phục hồi từ năm 2025. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô thuận lợi hơn, hành lang pháp lý tiếp tục được hoàn thiện và các yếu tố nhân khẩu học duy trì tích cực, các chuyên gia kỳ vọng, ngành bảo hiểm sẽ lấy lại đà tăng trưởng ổn định trong trung và dài hạn. Sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, cùng với xu hướng già hóa dân số, được xem là những động lực nền tảng thúc đẩy nhu cầu bảo hiểm, đặc biệt đối với các sản phẩm bảo vệ và tích lũy dài hạn.

Đối với mảng bảo hiểm nhân thọ, theo số liệu 6 tháng đầu năm 2025, dấu hiệu phục hồi tương đối rõ nét, khi tăng trưởng phí bảo hiểm khai thác mới đạt 8,6% và tổng phí bảo hiểm gốc tăng 2,4% so với cùng kỳ. Kết quả này phản ánh sự cải thiện dần của niềm tin thị trường, trong bối cảnh tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam vẫn chỉ ở mức khoảng 1,2%, thấp hơn nhiều so với mức 3,5% tại Thái Lan và 3,8% tại Malaysia. Theo các chuyên gia, dư địa tăng trưởng của mảng nhân thọ vẫn còn đáng kể khi các doanh nghiệp chuyển hướng sang chiến lược phát triển thận trọng và dài hạn hơn.

Sau giai đoạn chịu tác động tiêu cực từ các sai phạm trong kênh bancassurance, một số doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã tận dụng lợi thế về mạng lưới đại lý và hệ thống phân phối truyền thống để từng bước củng cố lại vị thế trên thị trường. Việc tập trung nâng cao chất lượng tư vấn, tuân thủ chặt chẽ các quy định bán hàng và cải thiện trải nghiệm khách hàng được xem là yếu tố then chốt giúp ngành khôi phục niềm tin trong trung hạn.

Về cơ cấu sản phẩm, các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, đặc biệt là bảo hiểm liên kết chung, tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu phí. Xu hướng này phản ánh nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp bảo hiểm linh hoạt, kết hợp giữa bảo vệ và tích lũy tài sản, nhất là trong nhóm khách hàng trẻ và có thu nhập khá. Giới phân tích nhận định, xu hướng này sẽ tiếp tục trong những năm tới, song hành với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu và nhu cầu quản lý tài chính dài hạn.

Phi nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng

Ở mảng bảo hiểm phi nhân thọ, đà phục hồi cũng được ghi nhận tương đối rõ ràng. Doanh thu phí bảo hiểm trong 9 tháng đầu năm 2025 tăng khoảng 10% so với cùng kỳ, trong bối cảnh tăng trưởng GDP quý III/2025 đạt mức cao nhất trong vòng một thập kỷ. Mục tiêu tăng trưởng GDP 8 - 10% cho giai đoạn 2025 - 2026, cùng với tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm còn thấp, được xem là những yếu tố nền tảng hỗ trợ triển vọng tăng trưởng của mảng phi nhân thọ.

Dư địa tăng trưởng dài hạn mở ra cho ngành bảo hiểm Việt Nam
Nguồn: Vietcap, Bộ Tài chính, IAV.

Bên cạnh đó, việc siết chặt các quy định đối với bảo hiểm bắt buộc, cùng với nhận thức ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp về quản trị rủi ro sau đại dịch và các sự kiện thiên tai, đang góp phần thúc đẩy nhu cầu bảo hiểm. Trong nhóm các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, xu hướng chung là ưu tiên cải thiện biên lợi nhuận bảo hiểm gốc thay vì chạy theo tăng trưởng nóng, dẫn tới sự phân hóa về thị phần giữa các doanh nghiệp.

Tính đến 9 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ kết hợp của toàn ngành bảo hiểm phi nhân thọ đã cải thiện so với năm 2024, một phần nhờ điều kiện thiên tai trong phần lớn thời gian không quá khắc nghiệt. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý rằng, áp lực có thể gia tăng trong quý IV khi các cơn bão lớn và hậu quả sau bão có thể làm tăng chi phí bồi thường, đặc biệt ở nghiệp vụ xe cơ giới. Dù vậy, xu hướng dài hạn của tỷ lệ kết hợp vẫn được đánh giá là đi xuống, phản ánh sự chuyển dịch chiến lược của các doanh nghiệp theo hướng chú trọng chất lượng lợi nhuận và kỷ luật khai thác.

Tính đến tháng 10/2025, thiệt hại ước tính do thiên tai tại Việt Nam đã tiệm cận mức của cả năm 2024, chưa bao gồm tác động của các đợt lũ lụt nghiêm trọng và các cơn bão lớn trong tháng 11. Dù năm 2025 có thể ghi nhận mức chi trả bồi thường thiên tai cao, các chuyên gia cho rằng, áp lực này vẫn nằm trong tầm kiểm soát, khi tỷ lệ bồi thường toàn ngành dự kiến duy trì ổn định nhờ tăng trưởng doanh thu phí, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm còn thấp và các chiến lược tái bảo hiểm chủ động. Đồng thời, các sự kiện thiên tai cũng góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của bảo hiểm, qua đó hỗ trợ triển vọng tăng trưởng dài hạn của ngành.

Thu Hương

Đọc thêm

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,708 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,708 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,688 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 1,745
Cập nhật: 04/04/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17648 17921 18502
CAD 18386 18663 19276
CHF 32349 32732 33367
CNY 0 3470 3830
EUR 29764 30036 31066
GBP 34044 34434 35379
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14716 15306
SGD 19945 20227 20743
THB 723 786 840
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/04/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80