Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang

Ánh Tuyết
Thông tin từ Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, chính sách tiền tệ năm 2025 đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Các tổ chức tín dụng phấn đấu hạ lãi suất cho vay, tính đến cuối tháng 11/2024, lãi suất cho vay bình quân với các giao dịch mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự chỉ đạo Hội nghị.

Nhiệm kỳ nhiều thử thách nhưng ghi đậm dấu ấn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, đây là một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn, nỗ lực, cảm xúc đối diện với những khó khăn chưa từng có. Qua đây, toàn ngành rút ra nhiều bài học và phương hướng cho nhiệm kỳ tới, trước hết là năm 2026.

Dù khó khăn, thách thức nhưng chính sách tiền tệ đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khoảng trên 3%, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định dù rất nhiều áp lực.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang
Toàn cảnh Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo báo cáo tại hội nghị, về điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định, đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như: lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Về điều hành tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn trong năm 2025 để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng.

"Các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng" - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng năm 2025 tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024. Đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về đích kế hoạch, chuẩn bị nền tảng tăng trưởng năm 2026

Tại hội nghị, Chủ tịch VietinBank Trần Minh Bình cho biết, đến hết tháng 10, VietinBank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Quy mô tổng tài sản đã vượt mốc 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2025, VietinBank đã triển khai tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân toàn ngành; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm.

Song song với tăng trưởng, VietinBank thực hiện đồng bộ các giải pháp tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số và tiết giảm chi phí; trong đó đã giảm khoảng 100 phòng giao dịch, và tiếp tục triển khai lộ trình này trong năm 2026 và các năm tiếp theo, gắn với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank - ông Tô Huy Vũ cũng cho biết, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm dự kiến đạt khoảng 14,8%, hoàn thành 100% kế hoạch Ngân hàng Nhà nước giao; nguồn vốn thị trường I tăng trưởng tích cực, bảo đảm cân đối vốn. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,2%; thu hồi nợ sau xử lý rủi ro đạt khoảng 16.000 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tiếp tục giảm.

Đồng thời, ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay.

Đến ngày 25/12, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu nợ cho hơn 36.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, với dư nợ bị ảnh hưởng gần 40.000 tỷ đồng; đồng thời giảm lãi suất cho gần 30.000 khách hàng với dư nợ được điều chỉnh lãi suất hơn 17.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn, tổng quy mô các gói lên tới 685.000 tỷ đồng, với mặt bằng lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% so với thông thường.

Bước sang năm 2026, để góp phần hỗ trợ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trên 10%, Agribank xác định tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế./.

Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng đã đóng góp quan trọng, tích cực vào kết quả, thành tựu chung của đất nước năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.

Thủ tướng cơ bản đồng ý với nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 mà của ngành ngân hàng như trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các đại biểu; đồng thời nhấn mạnh các nội dung trọng tâm mà ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Trong đó, cần tạo đột phát mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và cải cách hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Quản lý hiệu quả hoạt động ngân hàng trong các Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng (đặc biệt quản lý ngoại hối, dòng tiền xuyên biên giới). Mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Hà Nội - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Miền Tây - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
NL 99.99 12,950 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▲50K
Trang sức 99.9 13,410 ▲50K 14,010 ▲50K
Trang sức 99.99 13,420 ▲50K 14,020 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 ▼1237K 14,102 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 ▼1237K 14,103 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,375 ▲10K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,375 ▲10K 1,406 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲1211K 139 ▼1246K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲495K 137,624 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼84774K 10,441 ▼93594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲340K 94,679 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲305K 84,948 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲291K 81,195 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲43508K 58,119 ▲52328K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cập nhật: 05/08/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17977 18251 18826
CAD 18131 18406 19022
CHF 31848 32229 32870
CNY 0 3852 3944
EUR 29665 29887 30963
GBP 34535 34927 35857
HKD 0 3218 3420
JPY 159 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15107 15694
SGD 19957 20239 20808
THB 707 770 823
USD (1,2) 26002 0 0
USD (5,10,20) 26043 0 0
USD (50,100) 26072 26086 26450
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,694 29,718 31,121
JPY 162.14 162.43 172.24
GBP 34,689 34,783 35,994
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,325 18,384 19,058
CHF 32,065 32,165 33,120
SGD 20,068 20,130 20,915
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.98 17.71 19.27
THB 753.32 762.62 815.94
NZD 15,098 15,238 15,693
SEK - 2,711 2,807
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,707 2,803
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,002.46 - 6,775.71
TWD 732 - 886.7
SAR - 6,875.17 7,240.99
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,060 26,080 26,460
EUR 29,728 29,847 31,043
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,281 3,294 3,411
CHF 31,923 32,051 32,981
JPY 162.61 163.26 171.20
AUD 18,154 18,227 18,826
SGD 20,138 20,219 20,815
THB 770 773 810
CAD 18,340 18,414 18,996
NZD 15,189 15,736
KRW 17.62 19.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18143 18243 19169
CAD 18304 18404 19420
CHF 32060 32090 33672
CNY 3831.1 3856.1 3991.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29821 29851 31573
GBP 34804 34854 36614
HKD 0 3355 0
JPY 163.02 163.52 174.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15211 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20102 20232 20954
THB 0 733.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,090 26,140 26,470
USD20 26,040 26,140 26,625
USD1 24,135 26,140 26,675
AUD 18,192 18,292 19,429
EUR 29,630 29,730 31,418
CAD 18,266 18,366 19,692
SGD 20,184 20,334 20,912
JPY 163.67 165.17 170.87
GBP 34,714 34,864 35,965
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/08/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80