Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang

Ánh Tuyết
Thông tin từ Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, chính sách tiền tệ năm 2025 đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Các tổ chức tín dụng phấn đấu hạ lãi suất cho vay, tính đến cuối tháng 11/2024, lãi suất cho vay bình quân với các giao dịch mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự chỉ đạo Hội nghị.

Nhiệm kỳ nhiều thử thách nhưng ghi đậm dấu ấn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, đây là một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn, nỗ lực, cảm xúc đối diện với những khó khăn chưa từng có. Qua đây, toàn ngành rút ra nhiều bài học và phương hướng cho nhiệm kỳ tới, trước hết là năm 2026.

Dù khó khăn, thách thức nhưng chính sách tiền tệ đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khoảng trên 3%, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định dù rất nhiều áp lực.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang
Toàn cảnh Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo báo cáo tại hội nghị, về điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định, đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như: lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Về điều hành tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn trong năm 2025 để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng.

"Các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng" - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng năm 2025 tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024. Đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về đích kế hoạch, chuẩn bị nền tảng tăng trưởng năm 2026

Tại hội nghị, Chủ tịch VietinBank Trần Minh Bình cho biết, đến hết tháng 10, VietinBank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Quy mô tổng tài sản đã vượt mốc 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2025, VietinBank đã triển khai tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân toàn ngành; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm.

Song song với tăng trưởng, VietinBank thực hiện đồng bộ các giải pháp tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số và tiết giảm chi phí; trong đó đã giảm khoảng 100 phòng giao dịch, và tiếp tục triển khai lộ trình này trong năm 2026 và các năm tiếp theo, gắn với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank - ông Tô Huy Vũ cũng cho biết, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm dự kiến đạt khoảng 14,8%, hoàn thành 100% kế hoạch Ngân hàng Nhà nước giao; nguồn vốn thị trường I tăng trưởng tích cực, bảo đảm cân đối vốn. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,2%; thu hồi nợ sau xử lý rủi ro đạt khoảng 16.000 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tiếp tục giảm.

Đồng thời, ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay.

Đến ngày 25/12, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu nợ cho hơn 36.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, với dư nợ bị ảnh hưởng gần 40.000 tỷ đồng; đồng thời giảm lãi suất cho gần 30.000 khách hàng với dư nợ được điều chỉnh lãi suất hơn 17.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn, tổng quy mô các gói lên tới 685.000 tỷ đồng, với mặt bằng lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% so với thông thường.

Bước sang năm 2026, để góp phần hỗ trợ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trên 10%, Agribank xác định tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế./.

Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng đã đóng góp quan trọng, tích cực vào kết quả, thành tựu chung của đất nước năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.

Thủ tướng cơ bản đồng ý với nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 mà của ngành ngân hàng như trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các đại biểu; đồng thời nhấn mạnh các nội dung trọng tâm mà ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Trong đó, cần tạo đột phát mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và cải cách hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Quản lý hiệu quả hoạt động ngân hàng trong các Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng (đặc biệt quản lý ngoại hối, dòng tiền xuyên biên giới). Mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,080 ▲30K 16,380 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,030 ▲130K 15,230 ▲130K
Nguyên Liệu 99.9 14,980 ▲130K 15,180 ▲130K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Hà Nội - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Miền Tây - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,800 ▲300K 163,800 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,130 ▲80K 16,380 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,613 ▲8K 16,382 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,613 ▲8K 16,383 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 ▲8K 1,638 ▲3K
Cập nhật: 18/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19172
CAD 18643 18921 19536
CHF 32901 33286 33921
CNY 0 3835 3927
EUR 30036 30309 31334
GBP 34422 34814 35744
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15126 15710
SGD 20051 20334 20856
THB 722 786 839
USD (1,2) 26091 0 0
USD (5,10,20) 26133 0 0
USD (50,100) 26161 26181 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,217 30,241 31,527
JPY 161.77 162.06 170.99
GBP 34,633 34,727 35,755
AUD 18,523 18,590 19,196
CAD 18,861 18,922 19,523
CHF 33,212 33,315 34,122
SGD 20,213 20,276 20,969
CNY - 3,808 3,934
HKD 3,307 3,317 3,438
KRW 16.25 16.95 18.35
THB 771.48 781.01 831.98
NZD 15,107 15,247 15,622
SEK - 2,755 2,838
DKK - 4,043 4,165
NOK - 2,794 2,878
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.3 - 6,978.47
TWD 754.84 - 909.85
SAR - 6,921.01 7,253.04
KWD - 83,808 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,019 30,140 31,317
GBP 34,427 34,565 35,566
HKD 3,295 3,308 3,424
CHF 32,865 32,997 33,926
JPY 161.82 162.47 169.79
AUD 18,413 18,487 19,075
SGD 20,197 20,278 20,856
THB 784 787 822
CAD 18,793 18,868 19,438
NZD 15,099 15,630
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26387
AUD 18508 18608 19531
CAD 18826 18926 19940
CHF 33146 33176 34759
CNY 3816 3841 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30216 30246 31969
GBP 34718 34768 36521
HKD 0 3355 0
JPY 162.31 162.81 173.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15237 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20210 20340 21071
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,188 26,238 26,387
USD20 26,188 26,238 26,387
USD1 26,188 26,238 26,387
AUD 18,530 18,630 19,735
EUR 30,365 30,365 31,774
CAD 18,775 18,875 20,183
SGD 20,289 20,439 20,998
JPY 162.86 164.36 168.93
GBP 34,577 34,927 35,789
XAU 16,048,000 0 16,352,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80