Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang

Thông tin từ Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, chính sách tiền tệ năm 2025 đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Các tổ chức tín dụng phấn đấu hạ lãi suất cho vay, tính đến cuối tháng 11/2024, lãi suất cho vay bình quân với các giao dịch mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự chỉ đạo Hội nghị.

Nhiệm kỳ nhiều thử thách nhưng ghi đậm dấu ấn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, đây là một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn, nỗ lực, cảm xúc đối diện với những khó khăn chưa từng có. Qua đây, toàn ngành rút ra nhiều bài học và phương hướng cho nhiệm kỳ tới, trước hết là năm 2026.

Dù khó khăn, thách thức nhưng chính sách tiền tệ đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khoảng trên 3%, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định dù rất nhiều áp lực.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang
Toàn cảnh Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo báo cáo tại hội nghị, về điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định, đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như: lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Về điều hành tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn trong năm 2025 để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng.

"Các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng" - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng năm 2025 tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024. Đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về đích kế hoạch, chuẩn bị nền tảng tăng trưởng năm 2026

Tại hội nghị, Chủ tịch VietinBank Trần Minh Bình cho biết, đến hết tháng 10, VietinBank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Quy mô tổng tài sản đã vượt mốc 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2025, VietinBank đã triển khai tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân toàn ngành; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm.

Song song với tăng trưởng, VietinBank thực hiện đồng bộ các giải pháp tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số và tiết giảm chi phí; trong đó đã giảm khoảng 100 phòng giao dịch, và tiếp tục triển khai lộ trình này trong năm 2026 và các năm tiếp theo, gắn với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank - ông Tô Huy Vũ cũng cho biết, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm dự kiến đạt khoảng 14,8%, hoàn thành 100% kế hoạch Ngân hàng Nhà nước giao; nguồn vốn thị trường I tăng trưởng tích cực, bảo đảm cân đối vốn. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,2%; thu hồi nợ sau xử lý rủi ro đạt khoảng 16.000 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tiếp tục giảm.

Đồng thời, ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay.

Đến ngày 25/12, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu nợ cho hơn 36.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, với dư nợ bị ảnh hưởng gần 40.000 tỷ đồng; đồng thời giảm lãi suất cho gần 30.000 khách hàng với dư nợ được điều chỉnh lãi suất hơn 17.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn, tổng quy mô các gói lên tới 685.000 tỷ đồng, với mặt bằng lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% so với thông thường.

Bước sang năm 2026, để góp phần hỗ trợ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trên 10%, Agribank xác định tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế./.

Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng đã đóng góp quan trọng, tích cực vào kết quả, thành tựu chung của đất nước năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.

Thủ tướng cơ bản đồng ý với nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 mà của ngành ngân hàng như trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các đại biểu; đồng thời nhấn mạnh các nội dung trọng tâm mà ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Trong đó, cần tạo đột phát mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và cải cách hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Quản lý hiệu quả hoạt động ngân hàng trong các Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng (đặc biệt quản lý ngoại hối, dòng tiền xuyên biên giới). Mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tuần qua, từ ngày 26 - 30/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước "đảo chiều" bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng qua kênh OMO, khi lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng sát 5%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD phân hóa sau quyết định lãi suất 5 ngân hàng trung ương.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

(TBTCO) - Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động lan rộng. Khảo sát ngày 21/10 ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng hạ lãi suất kỳ hạn 12 tháng, mức giảm sâu nhất tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng", ước chiếm 3 - 5% dư nợ cho vay các ngân hàng, thay vì giảm đại trà.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026

(TBTCO) - Chỉ một ngày sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, hàng loạt ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất huy động với kỳ hạn trên 6 tháng, phổ biến hạ 0,5 điểm phần trăm, có nơi giảm tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản, tỷ giá và nhu cầu vốn cuối năm vẫn hạn chế dư địa giảm lãi suất.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
Trang sức 99.9 13,360 ▲150K 13,960 ▲150K
Trang sức 99.99 13,370 ▲150K 13,970 ▲150K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▲18K 14,242 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▲18K 14,243 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▲28K 1,405 ▲28K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▲28K 1,406 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲28K 1,395 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▲2772K 138,119 ▲2772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▲2100K 104,785 ▲2100K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▲1904K 95,019 ▲1904K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▲1709K 85,254 ▲1709K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▲1633K 81,487 ▲1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▲43791K 58,327 ▲52611K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cập nhật: 04/11/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30