Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang

Ánh Tuyết
Thông tin từ Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, chính sách tiền tệ năm 2025 đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Các tổ chức tín dụng phấn đấu hạ lãi suất cho vay, tính đến cuối tháng 11/2024, lãi suất cho vay bình quân với các giao dịch mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự chỉ đạo Hội nghị.

Nhiệm kỳ nhiều thử thách nhưng ghi đậm dấu ấn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, đây là một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn, nỗ lực, cảm xúc đối diện với những khó khăn chưa từng có. Qua đây, toàn ngành rút ra nhiều bài học và phương hướng cho nhiệm kỳ tới, trước hết là năm 2026.

Dù khó khăn, thách thức nhưng chính sách tiền tệ đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khoảng trên 3%, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định dù rất nhiều áp lực.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang
Toàn cảnh Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo báo cáo tại hội nghị, về điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định, đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như: lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Về điều hành tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn trong năm 2025 để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng.

"Các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng" - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng năm 2025 tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024. Đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về đích kế hoạch, chuẩn bị nền tảng tăng trưởng năm 2026

Tại hội nghị, Chủ tịch VietinBank Trần Minh Bình cho biết, đến hết tháng 10, VietinBank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Quy mô tổng tài sản đã vượt mốc 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2025, VietinBank đã triển khai tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân toàn ngành; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm.

Song song với tăng trưởng, VietinBank thực hiện đồng bộ các giải pháp tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số và tiết giảm chi phí; trong đó đã giảm khoảng 100 phòng giao dịch, và tiếp tục triển khai lộ trình này trong năm 2026 và các năm tiếp theo, gắn với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank - ông Tô Huy Vũ cũng cho biết, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm dự kiến đạt khoảng 14,8%, hoàn thành 100% kế hoạch Ngân hàng Nhà nước giao; nguồn vốn thị trường I tăng trưởng tích cực, bảo đảm cân đối vốn. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,2%; thu hồi nợ sau xử lý rủi ro đạt khoảng 16.000 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tiếp tục giảm.

Đồng thời, ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay.

Đến ngày 25/12, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu nợ cho hơn 36.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, với dư nợ bị ảnh hưởng gần 40.000 tỷ đồng; đồng thời giảm lãi suất cho gần 30.000 khách hàng với dư nợ được điều chỉnh lãi suất hơn 17.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn, tổng quy mô các gói lên tới 685.000 tỷ đồng, với mặt bằng lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% so với thông thường.

Bước sang năm 2026, để góp phần hỗ trợ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trên 10%, Agribank xác định tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế./.

Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng đã đóng góp quan trọng, tích cực vào kết quả, thành tựu chung của đất nước năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.

Thủ tướng cơ bản đồng ý với nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 mà của ngành ngân hàng như trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các đại biểu; đồng thời nhấn mạnh các nội dung trọng tâm mà ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Trong đó, cần tạo đột phát mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và cải cách hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Quản lý hiệu quả hoạt động ngân hàng trong các Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng (đặc biệt quản lý ngoại hối, dòng tiền xuyên biên giới). Mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 17,350
Kim TT/AVPL 17,010 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,350
Nguyên Liệu 99.99 15,550 15,750
Nguyên Liệu 99.9 15,500 15,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 16,850
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 16,780
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,500 173,000
Hà Nội - PNJ 169,500 173,000
Đà Nẵng - PNJ 169,500 173,000
Miền Tây - PNJ 169,500 173,000
Tây Nguyên - PNJ 169,500 173,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,500 173,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 17,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 17,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 17,300
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,490 17,190
Trang sức 99.99 16,500 17,200
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,698 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,698 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,678 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Cập nhật: 03/04/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17571 17843 18419
CAD 18386 18663 19280
CHF 32267 32650 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29715 29987 31012
GBP 33958 34347 35273
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19916 20198 20726
THB 719 782 835
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,945 29,969 31,208
JPY 160.99 161.28 169.95
GBP 34,280 34,373 35,351
AUD 17,844 17,908 18,471
CAD 18,633 18,693 19,264
CHF 32,650 32,752 33,506
SGD 20,102 20,165 20,833
CNY - 3,760 3,880
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.41 779.93 830.4
NZD 14,766 14,903 15,252
SEK - 2,734 2,813
DKK - 4,008 4,123
NOK - 2,665 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,113.41 - 6,860.69
TWD 745.48 - 897.54
SAR - 6,917.38 7,241.41
KWD - 83,795 88,608
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26362
AUD 17748 17848 18779
CAD 18568 18668 19682
CHF 32523 32553 34140
CNY 3758.7 3783.7 3918.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29900 29930 31653
GBP 34258 34308 36069
HKD 0 3355 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20072 20202 20935
THB 0 748.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 16000000 16000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,362
USD20 26,168 26,218 26,362
USD1 26,168 26,218 26,362
AUD 17,807 17,907 19,016
EUR 30,073 30,073 31,484
CAD 18,526 18,626 19,935
SGD 20,160 20,310 20,875
JPY 162.13 163.63 168.21
GBP 34,211 34,561 35,428
XAU 16,878,000 0 17,282,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/04/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80