Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang

Thông tin từ Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 cho thấy, chính sách tiền tệ năm 2025 đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Các tổ chức tín dụng phấn đấu hạ lãi suất cho vay, tính đến cuối tháng 11/2024, lãi suất cho vay bình quân với các giao dịch mới ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Dòng tiền đứng trước ngã rẽ trong "cuộc đua" lãi suất huy động

Ngày 31/12, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự chỉ đạo Hội nghị.

Nhiệm kỳ nhiều thử thách nhưng ghi đậm dấu ấn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, đây là một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn, nỗ lực, cảm xúc đối diện với những khó khăn chưa từng có. Qua đây, toàn ngành rút ra nhiều bài học và phương hướng cho nhiệm kỳ tới, trước hết là năm 2026.

Dù khó khăn, thách thức nhưng chính sách tiền tệ đã được điều hành linh hoạt, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao trên 8%, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, khoảng trên 3%, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định dù rất nhiều áp lực.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao, lãi suất cho vay đi ngang
Toàn cảnh Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026. Ảnh tư liệu.

Theo báo cáo tại hội nghị, về điều hành lãi suất, từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay; sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

"Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giữ ổn định, đến ngày 30/11/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,96%/năm, tương đương so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần hấp thu các cú sốc bên ngoài; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như: lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tỷ giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Về điều hành tăng trưởng tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước khu vực khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi các đợt bão, mưa lũ lớn trong năm 2025 để kịp thời áp dụng biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các Khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng.

"Các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng" - Ngân hàng Nhà nước thông tin.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng năm 2025 tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2024. Đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Về đích kế hoạch, chuẩn bị nền tảng tăng trưởng năm 2026

Tại hội nghị, Chủ tịch VietinBank Trần Minh Bình cho biết, đến hết tháng 10, VietinBank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu lớn do Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Quy mô tổng tài sản đã vượt mốc 100 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng tài sản đạt trên 18%.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm 2025, VietinBank đã triển khai tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân toàn ngành; đồng thời tập trung đầu tư đồng bộ vào các lĩnh vực chủ lực, các động lực tăng trưởng, đặc biệt là các dự án trọng điểm.

Song song với tăng trưởng, VietinBank thực hiện đồng bộ các giải pháp tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số và tiết giảm chi phí; trong đó đã giảm khoảng 100 phòng giao dịch, và tiếp tục triển khai lộ trình này trong năm 2026 và các năm tiếp theo, gắn với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank - ông Tô Huy Vũ cũng cho biết, tăng trưởng dư nợ tín dụng cả năm dự kiến đạt khoảng 14,8%, hoàn thành 100% kế hoạch Ngân hàng Nhà nước giao; nguồn vốn thị trường I tăng trưởng tích cực, bảo đảm cân đối vốn. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1,2%; thu hồi nợ sau xử lý rủi ro đạt khoảng 16.000 tỷ đồng; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tiếp tục giảm.

Đồng thời, ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất cho vay.

Đến ngày 25/12, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu nợ cho hơn 36.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ, với dư nợ bị ảnh hưởng gần 40.000 tỷ đồng; đồng thời giảm lãi suất cho gần 30.000 khách hàng với dư nợ được điều chỉnh lãi suất hơn 17.000 tỷ đồng.

Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn, tổng quy mô các gói lên tới 685.000 tỷ đồng, với mặt bằng lãi suất thấp hơn từ 1 - 2% so với thông thường.

Bước sang năm 2026, để góp phần hỗ trợ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trên 10%, Agribank xác định tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ quan tâm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời, đề nghị tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong xử lý nợ xấu, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế./.

Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng đã đóng góp quan trọng, tích cực vào kết quả, thành tựu chung của đất nước năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.

Thủ tướng cơ bản đồng ý với nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 mà của ngành ngân hàng như trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các đại biểu; đồng thời nhấn mạnh các nội dung trọng tâm mà ngành ngân hàng cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Trong đó, cần tạo đột phát mạnh mẽ hơn nữa về thể chế và cải cách hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Quản lý hiệu quả hoạt động ngân hàng trong các Trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng (đặc biệt quản lý ngoại hối, dòng tiền xuyên biên giới). Mọi hoạt động của ngân hàng phải đổi mới, phải đột phá nhưng góp phần thực hiện nhất quán mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30