Nhập khẩu vàng miếng bị quản chặt, năm 2025 vẫn được xem xét cấp hạn mức

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước lần đầu tiên bổ sung thủ tục cấp Giấy phép sản xuất vàng miếng, đồng thời quy định doanh nghiệp và ngân hàng thương mại phải xin hạn mức xuất nhập khẩu vàng hằng năm trước ngày 15/11. Riêng năm 2025, việc phân bổ hạn mức sẽ áp dụng linh hoạt theo tình hình cấp phép thực tế.
aa
Chính thức bỏ độc quyền, nhiều ngân hàng đủ sức nhập "cuộc đua" sản xuất vàng miếng Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới? Giá vàng hôm nay (29/9): Vàng miếng, vàng nhẫn neo ở mốc cao Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng

Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP. Thông tư dự kiến có hiệu lực từ ngày 10/10/2025, cùng ngày triển khai Nghị định số 232/2025/NĐ-CP.

Bổ sung thủ tục cấp phép sản xuất vàng miếng, siết hạn mức xuất nhập khẩu

Thông tư quy định chi tiết các hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; sản xuất và kinh doanh mua, bán vàng miếng; cùng hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng có kinh doanh vàng và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nhập khẩu vàng miếng bị quản chặt, năm 2025 vẫn được xem xét cấp hạn mức
Nhập khẩu vàng miếng bị quản chặt, năm 2025 vẫn được xem xét cấp hạn mức. Ảnh tư liệu.

Điểm mới nổi bật là bổ sung thủ tục cấp Giấy phép sản xuất kinh doanh sản xuất vàng miếng tại Điều 5 dự thảo Thông tư. Đây là thủ tục hành chính mới được quy định tại dự thảo Thông tư.

Theo đó, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại muốn tham gia sản xuất phải nộp hồ sơ gồm: đơn đề nghị, tài liệu chứng minh vốn điều lệ, quy định nội bộ về quy trình sản xuất, giám sát và kiểm soát chất lượng, kèm tài liệu khắc phục sau thanh/kiểm tra (nếu có).

Hạn cuối ngày 15/11 nộp hồ sơ xin hạn mức vàng miếng

Doanh nghiệp, ngân hàng thương mại được phép sản xuất vàng miếng phải xin hạn mức xuất khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng nguyên liệu hằng năm theo Điều 18 dự thảo, gửi hồ sơ về Ngân hàng Nhà nước chậm nhất ngày 15/11 liền kề trước năm đề nghị cấp hạn mức. Trước ngày 15/12 hằng năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp hạn mức hoặc có văn bản thông báo từ chối (ghi rõ lý do).

"Quy định về thời hạn chậm nhất ngày 15/11 hàng năm gửi hồ sơ đề nghị để Ngân hàng Nhà nước làm căn cứ tính tổng hạn mức xuất khẩu, nhập khẩu vàng, từ đó phân bổ hạn mức cho từng doanh nghiệp, ngân hàng thương mại" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Đáng chú ý, Thông tư thiết lập cơ chế quản lý hạn mức xuất nhập khẩu vàng miếng và vàng nguyên liệu dựa trên mục tiêu chính sách tiền tệ, cung - cầu vàng trong từng thời kỳ, quy mô dự trữ ngoại hối và tình hình thực hiện của doanh nghiệp.

Riêng năm 2025 (năm chuyển tiếp), vì đây là năm đầu tiên áp dụng cơ chế mới nên việc phân bổ hạn mức sẽ không áp dụng cứng thời hạn 15/12 như quy định chung tại Khoản 3 Điều 20. Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ căn cứ trên tình hình thực tế cấp phép sản xuất để quyết định phân bổ hạn mức.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định thành lập Hội đồng xây dựng, điều chỉnh hạn mức xuất khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng miếng, nhập khẩu vàng nguyên liệu (Hội đồng xây dựng hạn mức). Hội đồng xây dựng hạn mức do Phó Thống đốc phụ trách quản lý hoạt động kinh doanh vàng làm Chủ tịch. Các thành viên là Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước: Cục Quản lý ngoại hối, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính; Cục quản lý, giám sát tổ chức tín dụng.

Khoản 2 Điều 24 dự thảo Thông tư quy định trường hợp doanh nghiệp, ngân hàng thương mại bị thu hồi Giấy phép khi giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật; bị thu hồi Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu chấm dứt hoạt động sản xuất vàng miếng.

Báo cáo mọi giao dịch vàng miếng hằng ngày, kết nối dữ liệu trước 31/3/2026

Cũng tại dự thảo Thông tư có một chương riêng về kết nối và cung cấp thông tin được bổ sung nhằm tăng cường vai trò giám sát của cơ quan quản lý.

Nhập khẩu vàng miếng bị quản chặt, năm 2025 vẫn được xem xét cấp hạn mức
Các “ông lớn” được cấp phép sản xuất vàng miếng phải đáp ứng tiêu chí về vốn điều lệ. Ảnh tư liệu.
Một điểm mới quan trọng là yêu cầu doanh nghiệp và ngân hàng thương mại được cấp phép phải kết nối, cung cấp thông tin trực tuyến, liên tục cho Ngân hàng Nhà nước về hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và giao dịch vàng. Tất cả dữ liệu phải được lưu trữ tối thiểu 10 năm.

Theo đó, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng kinh doanh vàng miếng phải kết nối dữ liệu về: khối lượng, giá trị giao dịch mua bán và niêm yết công khai giá mua - bán vàng miếng.

Còn các đơn vị sản xuất và xuất nhập khẩu vàng phải kết nối thông tin theo Khoản 2 Điều 26 dự thảo về: hoạt động sản xuất vàng miếng (nguyên liệu đầu vào, thời gian sản xuất, sản phẩm đầu ra); thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng (khối lượng vàng, hàm lượng vàng, giá trị xuất khẩu, nhập khẩu); thông tin về hoạt động giao dịch bán vàng nguyên liệu (đối tác, khối lượng, hàm lượng và giá trị giao dịch).

Chế độ báo cáo được quy định chi tiết: doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng báo cáo doanh số hằng ngày trước 14h ngày kế tiếp, báo cáo thay đổi thông tin hằng quý; doanh nghiệp sản xuất vàng miếng báo cáo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu hằng tháng, hằng năm; doanh nghiệp gia công vàng cho nước ngoài phải báo cáo thanh khoản hợp đồng khi kết thúc.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực tổng hợp báo cáo quý và năm gửi về Ngân hàng Nhà nước Trung ương.

Về hiệu lực thi hành, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kết nối cung cấp giá niêm yết phải hoàn thành trước ngày 31/12/2025, còn kết nối các thông tin từ doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho Ngân hàng Nhà nước triển khai chậm nhất trước ngày 31/3/2026.

Đây là bước hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, quản lý chặt chẽ và hiện đại hóa công tác giám sát hoạt động kinh doanh vàng, gắn với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và ổn định thị trường vàng./.

Các “ông lớn” được cấp phép sản xuất vàng miếng phải đáp ứng tiêu chí vốn

Doanh nghiệp muốn được cấp phép sản xuất vàng miếng phải có vốn điều lệ tối thiểu 1.000 tỷ đồng, trong khi ngân hàng thương mại cần đạt từ 50.000 tỷ đồng trở lên. Đồng thời, các đơn vị này phải thuộc danh sách tổ chức đã được Ngân hàng Nhà nước cấp phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Hiện cả nước có 38 doanh nghiệp và ngân hàng được cấp phép kinh doanh vàng miếng, song xét theo quy mô vốn điều lệ, chỉ một số doanh nghiệp lớn và ngân hàng “đầu ngành” mới đáp ứng đủ điều kiện. Trong số đó, khối doanh nghiệp có SJC, PNJ và DOJI; còn ở nhóm ngân hàng, tính đến cuối quý II/2025, những đơn vị thỏa mãn tiêu chí vốn gồm Vietcombank, VPBank, Techcombank, BIDV, MB, VietinBank và ACB./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/7: Giá trong nước giảm thêm 1 triệu đồng/lượng cả 2 chiều mua, bán

Giá vàng hôm nay ngày 13/7: Giá trong nước giảm thêm 1 triệu đồng/lượng cả 2 chiều mua, bán

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.089 USD/ounce, giảm hơn 30 USD/ounce so với sáng qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đều giảm thêm 1 triệu đồng/lượng khi mở đầu phiên sáng nay.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch trên ngưỡng 4.120 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều thương hiệu, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 ▲90K 14,580 ▲90K
Trang sức 99.99 13,890 ▲90K 14,590 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▲9K 14,752 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▲9K 14,753 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1278K 1,465 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1278K 1,466 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1251K 1,445 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲891K 143,069 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲675K 108,536 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79146K 9,842 ▼87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲549K 88,304 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲525K 84,402 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲376K 60,413 ▲376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cập nhật: 18/07/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/07/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80