Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi xuống trong phiên 18/9, còn giá quốc tế giằng co quanh mốc 3.700 USD/ounce, có lúc giảm sâu dù Fed hạ lãi suất lần đầu từ tháng 11 năm ngoái; chênh lệch giá trong - ngoài nước thu hẹp. Dù vậy, giới phân tích vẫn lạc quan, vàng có thể hướng tới 4.000 USD/ounce nếu Fed duy trì đúng lộ trình chính sách và nhiều nhân tố ủng hộ đà tăng.
aa

Giá vàng hôm nay (18/9): Quay đầu giảm Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới?

"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Vàng thế giới giằng co mốc 3.700 USD/ounce

Kết thúc phiên giao dịch chiều ngày 18/9, giá vàng trong nước tiếp tục xu hướng giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn. Trên thị trường quốc tế, giá vàng cũng suy yếu sau khi mất mốc quan trọng 3.700 USD/ounce.

Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng

Theo đó, Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng ở mức 130 - 132 triệu đồng/lượng, giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước. Mức giá tương tự cũng được PNJ và DOJI công bố.

Đối với vàng nhẫn, tại DOJI, giá vàng nhẫn trơn giảm xuống 126,3 - 129,3 triệu đồng/lượng, mất thêm 500.000 đồng/lượng; tại SJC, vàng nhẫn còn 126,3 - 129 triệu đồng/lượng, giảm 300.000 đồng/lượng.

Giá vàng SJC rời xa mốc đỉnh, chênh lệch trong - ngoài nước co lại

Quy đổi theo tỷ giá USD ngân hàng, giá vàng thế giới hiện vào khoảng 118,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí), thấp hơn giá vàng miếng SJC trong nước khoảng 13,6 triệu đồng/lượng. So với mức đỉnh bán ra ngày 9/9 (135,8 triệu đồng/lượng), giá niêm yết vàng miếng SJC hiện giảm 3,8 triệu đồng/lượng; đồng thời, khoảng cách giữa vàng trong nước và quốc tế cũng thu hẹp thêm 2,1 triệu đồng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay mất mốc 3.700 USD/ounce, lùi xuống dưới 3.670 USD/ounce, thấp hơn 37 USD/ounce so với đỉnh 3.707 USD/ounce vừa thiết lập, rồi sau đó bật tăng trở lại, giằng co quanh ngưỡng 3.700 USD/ounce và có lúc lên 3.702 USD/ounce.

Cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã kết thúc, với quyết định cắt giảm lãi suất quỹ liên bang thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa lãi suất xuống 4 - 4,25%. Đây là lần giảm đầu tiên kể từ tháng 11 năm ngoái và đã được thị trường dự đoán trước.

Nhiều dự báo, giá vàng có thể đạt 4.000 USD/ounce vào cuối năm nếu Fed duy trì đúng lộ trình chính sách. Bối cảnh nới lỏng tiền tệ, lạm phát dai dẳng và bất ổn địa chính trị đang tạo môi trường thuận lợi cho xu hướng tăng giá của kim loại quý này.

Tuy vậy, biến động ngắn hạn vẫn có thể xảy ra khi thị trường phản ứng với dữ liệu kinh tế và phát biểu của giới chức Fed. Trên thực tế, ngay sau quyết định giảm lãi suất, vàng đã lập kỷ lục mới trong ngày, ở mức 3.707 USD/ounce, song quỹ đạo giá đã thay đổi khi Chủ tịch Jerome Powell đưa ra bài phát biểu, buộc các nhà đầu tư phải điều chỉnh lại kỳ vọng.

Các dự báo mới cho thấy, Fed nhiều khả năng sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong các cuộc họp còn lại của năm, khẳng định xu hướng chính sách tiền tệ nới lỏng. Diễn biến này có tác động trực tiếp đến triển vọng ngắn hạn của vàng. Thực tế lịch sử cho thấy, khi lãi suất thấp, chi phí cơ hội nắm giữ tài sản không sinh lời giảm, trong khi áp lực lạm phát tăng, vàng thường trở nên hấp dẫn hơn như một kênh lưu giữ giá trị.

Vàng có thể chạm 4.000 USD/ounce khi Fed nới lỏng lãi suất

Theo ông Daniel Pavilonis - chuyên gia môi giới hàng hóa cao cấp tại RJO Futures (Mỹ), nếu Fed khởi động lại chu kỳ cắt giảm lãi suất, sự kết hợp giữa đồng USD yếu hơn, lạm phát gia tăng và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung do thuế quan có thể tạo ra kịch bản giống thập niên 1970.

Khi đó, không chỉ vàng, mà cả bạc, bạch kim đều có thể lập đỉnh mới vào cuối năm. Ông Daniel Pavilonis dự báo, giá vàng có thể chạm 4.000 USD/ounce, thậm chí cao hơn; bạc đạt khoảng 50 USD/ounce; còn bạch kim có thể giao dịch quanh mức 1.800 USD/ounce vào cuối năm nay.

Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng
Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng. Ảnh minh hoạ.

"Động lực tăng giá mới đáng chú ý là sự tham gia tích cực của nhà đầu tư Trung Quốc, thể hiện qua việc lượng tồn kho vàng tại Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE) đã tăng gấp đôi trong vòng 2 tháng qua. Về mặt kỹ thuật, biểu đồ giá cũng cho tín hiệu tăng sau khi vàng vượt ngưỡng kháng cự quan trọng 3.500 USD/ounce một cách dứt khoát. Do đó, chúng tôi nâng dự báo giá vàng lên 3.700 USD/ounce vào quý IV/2025 và 4.000 USD/ounce vào quý III/2026" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Đánh giá về triển vọng giá vàng, ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu Ngân hàng UOB nâng dự báo giá vàng dài hạn lên 4.000 USD/ounce vào quý III/2026.

Theo chuyên gia UOB, sau giai đoạn tích lũy dưới ngưỡng 3.400 USD/ounce kể từ tháng 5, vàng đã bứt phá mạnh trong nhịp tăng mới của xu hướng dài hạn. Đà tăng được củng cố bởi nhu cầu trú ẩn an toàn từ ngân hàng trung ương và nhà đầu tư cá nhân, cùng yếu tố thanh khoản gia tăng trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed nối lại chu kỳ cắt giảm lãi suất từ cuộc họp vừa qua.

Cùng chung quan điểm, ​​​​ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho rằng, trong dài hạn, vàng - một trong những tài sản không bị kiểm soát bởi chính phủ, sẽ tiếp tục hút dòng tiền toàn cầu trong bối cảnh kinh tế suy yếu và chính trị bất ổn. Ngoài ra, giá vàng trong nước và thế giới hiện vẫn chênh lệch cao, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy tình trạng đầu cơ ngoại tệ để nhập khẩu vàng lậu nhằm "ăn" chênh lệch.

"Việc ban hành Nghị định 232/2025/NĐ-CP xóa bỏ độc quyền nhập khẩu vàng miếng, tư nhân tham gia nhập khẩu vàng có thể phần nào kỳ vọng nguồn cung vàng sẽ được cải thiện và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Từ đó, thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước với giá thế giới, cũng sẽ làm giảm đi việc đầu cơ ngoại tệ nhập khẩu vàng lậu để "ăn" chênh lệch giá vàng" - ông Linh nhận định./.

Giá vàng lập kỷ lục mới giữa vòng xoáy rủi ro tài khóa và chính trị

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), giá vàng vừa lập kỷ lục mới phản ánh rõ nhu cầu tìm đến kênh trú ẩn an toàn trong bối cảnh rủi ro tài khóa và chính trị leo thang, đến từ 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, áp lực tài khóa: nợ công tại nhiều nền kinh tế phát triển tăng mạnh do chi tiêu công lớn nhưng tăng trưởng không theo kịp. Mỹ phải phát hành thêm trái phiếu để bù thâm hụt, còn châu Âu cũng đối mặt bội chi.

Thứ hai, rủi ro chính trị tại Mỹ: Tổng thống Donald Trump gia tăng sức ép lên Fed, thể hiện qua vụ kiện nhằm sa thải Thống đốc Lisa Cook và tìm cách thay thế Chủ tịch Jerome Powell, làm dấy lên lo ngại về tính độc lập của chính sách tiền tệ.

Thứ ba, niềm tin suy giảm vào kỷ luật tài khóa: trái phiếu dài hạn ngày càng phản ánh hoài nghi của nhà đầu tư về khả năng kiểm soát nợ công, thay vì chỉ chịu tác động từ lãi suất.

Trong bối cảnh này, vàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao do được hưởng lợi từ vai trò tài sản trú ẩn. Nếu xu hướng lợi suất trái phiếu tăng kéo dài, chi phí vốn toàn cầu sẽ leo thang, tạo ra vòng xoáy khó kiểm soát, đặc biệt với các chính phủ có gánh nặng nợ vay lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce lên ngưỡng 4.247 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt được điều chỉnh tăng, với mức cao nhất lên tới 2,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17920 18194 18773
CAD 18189 18465 19083
CHF 31654 32034 32682
CNY 0 3840 3940
EUR 29561 29783 30866
GBP 34451 34843 35781
HKD 0 3201 3404
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15076 15664
SGD 19887 20169 20749
THB 708 771 824
USD (1,2) 25875 0 0
USD (5,10,20) 25915 0 0
USD (50,100) 25943 25957 26327
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,930 25,940 26,320
EUR 29,624 29,743 30,936
GBP 34,614 34,753 35,785
HKD 3,263 3,276 3,392
CHF 31,753 31,881 32,809
JPY 161.12 161.77 169.63
AUD 18,104 18,177 18,774
SGD 20,070 20,151 20,747
THB 771 774 811
CAD 18,383 18,457 19,044
NZD 15,120 15,666
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19117
CAD 18360 18460 19474
CHF 31889 31919 33501
CNY 3812.1 3837.1 3972.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29727 29757 31482
GBP 34722 34772 36540
HKD 0 3355 0
JPY 161.65 162.15 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20032 20162 20893
THB 0 735.7 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,960 26,010 26,340
USD20 25,910 26,010 26,715
USD1 25,860 26,010 26,765
AUD 18,150 18,250 19,359
EUR 29,535 29,635 31,296
CAD 18,320 18,420 19,729
SGD 20,124 20,274 20,829
JPY 162.09 163.59 169.16
GBP 34,636 34,786 35,854
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80