Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi xuống trong phiên 18/9, còn giá quốc tế giằng co quanh mốc 3.700 USD/ounce, có lúc giảm sâu dù Fed hạ lãi suất lần đầu từ tháng 11 năm ngoái; chênh lệch giá trong - ngoài nước thu hẹp. Dù vậy, giới phân tích vẫn lạc quan, vàng có thể hướng tới 4.000 USD/ounce nếu Fed duy trì đúng lộ trình chính sách và nhiều nhân tố ủng hộ đà tăng.
aa

Giá vàng hôm nay (18/9): Quay đầu giảm Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới?

"Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Vàng thế giới giằng co mốc 3.700 USD/ounce

Kết thúc phiên giao dịch chiều ngày 18/9, giá vàng trong nước tiếp tục xu hướng giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn. Trên thị trường quốc tế, giá vàng cũng suy yếu sau khi mất mốc quan trọng 3.700 USD/ounce.

Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng

Theo đó, Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng miếng ở mức 130 - 132 triệu đồng/lượng, giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước. Mức giá tương tự cũng được PNJ và DOJI công bố.

Đối với vàng nhẫn, tại DOJI, giá vàng nhẫn trơn giảm xuống 126,3 - 129,3 triệu đồng/lượng, mất thêm 500.000 đồng/lượng; tại SJC, vàng nhẫn còn 126,3 - 129 triệu đồng/lượng, giảm 300.000 đồng/lượng.

Giá vàng SJC rời xa mốc đỉnh, chênh lệch trong - ngoài nước co lại

Quy đổi theo tỷ giá USD ngân hàng, giá vàng thế giới hiện vào khoảng 118,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí), thấp hơn giá vàng miếng SJC trong nước khoảng 13,6 triệu đồng/lượng. So với mức đỉnh bán ra ngày 9/9 (135,8 triệu đồng/lượng), giá niêm yết vàng miếng SJC hiện giảm 3,8 triệu đồng/lượng; đồng thời, khoảng cách giữa vàng trong nước và quốc tế cũng thu hẹp thêm 2,1 triệu đồng.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay mất mốc 3.700 USD/ounce, lùi xuống dưới 3.670 USD/ounce, thấp hơn 37 USD/ounce so với đỉnh 3.707 USD/ounce vừa thiết lập, rồi sau đó bật tăng trở lại, giằng co quanh ngưỡng 3.700 USD/ounce và có lúc lên 3.702 USD/ounce.

Cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã kết thúc, với quyết định cắt giảm lãi suất quỹ liên bang thêm 0,25 điểm phần trăm, đưa lãi suất xuống 4 - 4,25%. Đây là lần giảm đầu tiên kể từ tháng 11 năm ngoái và đã được thị trường dự đoán trước.

Nhiều dự báo, giá vàng có thể đạt 4.000 USD/ounce vào cuối năm nếu Fed duy trì đúng lộ trình chính sách. Bối cảnh nới lỏng tiền tệ, lạm phát dai dẳng và bất ổn địa chính trị đang tạo môi trường thuận lợi cho xu hướng tăng giá của kim loại quý này.

Tuy vậy, biến động ngắn hạn vẫn có thể xảy ra khi thị trường phản ứng với dữ liệu kinh tế và phát biểu của giới chức Fed. Trên thực tế, ngay sau quyết định giảm lãi suất, vàng đã lập kỷ lục mới trong ngày, ở mức 3.707 USD/ounce, song quỹ đạo giá đã thay đổi khi Chủ tịch Jerome Powell đưa ra bài phát biểu, buộc các nhà đầu tư phải điều chỉnh lại kỳ vọng.

Các dự báo mới cho thấy, Fed nhiều khả năng sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong các cuộc họp còn lại của năm, khẳng định xu hướng chính sách tiền tệ nới lỏng. Diễn biến này có tác động trực tiếp đến triển vọng ngắn hạn của vàng. Thực tế lịch sử cho thấy, khi lãi suất thấp, chi phí cơ hội nắm giữ tài sản không sinh lời giảm, trong khi áp lực lạm phát tăng, vàng thường trở nên hấp dẫn hơn như một kênh lưu giữ giá trị.

Vàng có thể chạm 4.000 USD/ounce khi Fed nới lỏng lãi suất

Theo ông Daniel Pavilonis - chuyên gia môi giới hàng hóa cao cấp tại RJO Futures (Mỹ), nếu Fed khởi động lại chu kỳ cắt giảm lãi suất, sự kết hợp giữa đồng USD yếu hơn, lạm phát gia tăng và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung do thuế quan có thể tạo ra kịch bản giống thập niên 1970.

Khi đó, không chỉ vàng, mà cả bạc, bạch kim đều có thể lập đỉnh mới vào cuối năm. Ông Daniel Pavilonis dự báo, giá vàng có thể chạm 4.000 USD/ounce, thậm chí cao hơn; bạc đạt khoảng 50 USD/ounce; còn bạch kim có thể giao dịch quanh mức 1.800 USD/ounce vào cuối năm nay.

Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng
Giá vàng giằng co sau khi Fed hạ lãi suất, nhưng triển vọng 4.000 USD/ounce vẫn sáng. Ảnh minh hoạ.

"Động lực tăng giá mới đáng chú ý là sự tham gia tích cực của nhà đầu tư Trung Quốc, thể hiện qua việc lượng tồn kho vàng tại Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE) đã tăng gấp đôi trong vòng 2 tháng qua. Về mặt kỹ thuật, biểu đồ giá cũng cho tín hiệu tăng sau khi vàng vượt ngưỡng kháng cự quan trọng 3.500 USD/ounce một cách dứt khoát. Do đó, chúng tôi nâng dự báo giá vàng lên 3.700 USD/ounce vào quý IV/2025 và 4.000 USD/ounce vào quý III/2026" - chuyên gia UOB nhìn nhận.

Đánh giá về triển vọng giá vàng, ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu Ngân hàng UOB nâng dự báo giá vàng dài hạn lên 4.000 USD/ounce vào quý III/2026.

Theo chuyên gia UOB, sau giai đoạn tích lũy dưới ngưỡng 3.400 USD/ounce kể từ tháng 5, vàng đã bứt phá mạnh trong nhịp tăng mới của xu hướng dài hạn. Đà tăng được củng cố bởi nhu cầu trú ẩn an toàn từ ngân hàng trung ương và nhà đầu tư cá nhân, cùng yếu tố thanh khoản gia tăng trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed nối lại chu kỳ cắt giảm lãi suất từ cuộc họp vừa qua.

Cùng chung quan điểm, ​​​​ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) cho rằng, trong dài hạn, vàng - một trong những tài sản không bị kiểm soát bởi chính phủ, sẽ tiếp tục hút dòng tiền toàn cầu trong bối cảnh kinh tế suy yếu và chính trị bất ổn. Ngoài ra, giá vàng trong nước và thế giới hiện vẫn chênh lệch cao, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy tình trạng đầu cơ ngoại tệ để nhập khẩu vàng lậu nhằm "ăn" chênh lệch.

"Việc ban hành Nghị định 232/2025/NĐ-CP xóa bỏ độc quyền nhập khẩu vàng miếng, tư nhân tham gia nhập khẩu vàng có thể phần nào kỳ vọng nguồn cung vàng sẽ được cải thiện và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường. Từ đó, thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước với giá thế giới, cũng sẽ làm giảm đi việc đầu cơ ngoại tệ nhập khẩu vàng lậu để "ăn" chênh lệch giá vàng" - ông Linh nhận định./.

Giá vàng lập kỷ lục mới giữa vòng xoáy rủi ro tài khóa và chính trị

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), giá vàng vừa lập kỷ lục mới phản ánh rõ nhu cầu tìm đến kênh trú ẩn an toàn trong bối cảnh rủi ro tài khóa và chính trị leo thang, đến từ 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất, áp lực tài khóa: nợ công tại nhiều nền kinh tế phát triển tăng mạnh do chi tiêu công lớn nhưng tăng trưởng không theo kịp. Mỹ phải phát hành thêm trái phiếu để bù thâm hụt, còn châu Âu cũng đối mặt bội chi.

Thứ hai, rủi ro chính trị tại Mỹ: Tổng thống Donald Trump gia tăng sức ép lên Fed, thể hiện qua vụ kiện nhằm sa thải Thống đốc Lisa Cook và tìm cách thay thế Chủ tịch Jerome Powell, làm dấy lên lo ngại về tính độc lập của chính sách tiền tệ.

Thứ ba, niềm tin suy giảm vào kỷ luật tài khóa: trái phiếu dài hạn ngày càng phản ánh hoài nghi của nhà đầu tư về khả năng kiểm soát nợ công, thay vì chỉ chịu tác động từ lãi suất.

Trong bối cảnh này, vàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao do được hưởng lợi từ vai trò tài sản trú ẩn. Nếu xu hướng lợi suất trái phiếu tăng kéo dài, chi phí vốn toàn cầu sẽ leo thang, tạo ra vòng xoáy khó kiểm soát, đặc biệt với các chính phủ có gánh nặng nợ vay lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲270K 14,670 ▲270K
Trang sức 99.99 14,080 ▲270K 14,680 ▲270K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30