Thị trường tiền tệ tuần 21-25/11: Có ngân hàng giảm lãi suất, tỷ giá tiếp tục đi xuống

Chí Tín
(TBTCO) - Một số thông điệp đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua là việc có ngân hàng thông báo giảm lãi suất và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đôn đốc các ngân hàng đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Trong khi đó, tỷ giá tiếp tục đà đi xuống trong tuần qua, dù tốc độ giảm diễn ra với biên độ nhẹ.
aa

Vietcombank bất ngờ giảm lãi suất

Trong tuần qua, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) bất ngờ tuyên bố giảm lãi suất tới 1,0%/năm đối với các khoản vay bằng đồng Việt Nam cho các khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân hiện hữu với thời gian triển khai đến hết 31/12/2022 (chính sách giảm lãi suất nói trên không áp dụng với các khoản vay chứng khoán, vay kinh doanh bất động sản, vay cầm cố giấy tờ có giá…).

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/11: Có ngân hàng giảm lãi suất, tỷ giá tiếp tục đi xuống
Việc Vietcombank giảm lãi suất tạo ra một động thái trái chiều so với diễn biến lãi suất tăng thời gian qua. Ảnh: T.L

Trước đó, theo công bố của NHNN, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên thời gian qua chỉ ở mức khoảng 4,6%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (5,5%/năm). Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,4-9,9%/năm.

Lãi suất tiền gửi trên 24 tháng vẫn chỉ ở mức 6,7%

Mặc dù thời gian qua có nhiều thông tin về diễn biến lãi suất huy động tăng nóng, tuy nhiên, thông tin chính thức từ NHNN đưa ra trong tuần vừa qua cho biết, tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng có mức lãi suất bình quân chỉ khoảng 5,4 -6,5%/năm. Tại các kỳ hạn dài hơn, lãi suất ở mức khoảng 5,6-6,8%/năm với kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,2-6,7%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Thông điệp đốc thúc đẩy nhanh tín dụng

Cũng trong tuần này, một trong những thông điệp phát ra từ NHNN cho biết, tăng trưởng tín dụng mới đạt 11,5% và theo đó so với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2022 (khoảng 14%) thì vẫn còn dư địa để các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tiếp tục tăng trưởng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, người dân, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo đó, NHNN yêu cầu những tổ chức tín dụng vẫn còn hạn mức tăng trưởng tín dụng cần chủ động cân đối điều hòa nguồn vốn, tỷ lệ đảm bảo an toàn, tích cực giải ngân tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Những diễn biến trên cùng với động thái lãi suất tín phiếu bán ra của NHNN trên thị trường mở giảm mạnh tại một số phiên giai đoạn giữa tháng 11 khiến cho giới chuyên gia nhận định có thể đã có những dấu hiệu dư thừa vốn cục bộ tại một số ngân hàng.

Tỷ giá tiếp tục đi xuống

Diễn biến tỷ giá đi xuống cũng là một trong những thông điệp đáng chú ý trên thị trường tiền tệ trong tuần qua. Đặc biệt, Sở giao dịch NHNN đã điều chỉnh giảm 10 đồng mỗi Đô la tỷ giá tham khảo bán ra vào sáng hôm thứ sáu 25/11 với tỷ giá mới nhất cập nhật là 24.840 đồng/USD. Đây là tuần thứ hai liên tiếp Sở giao dịch có phiên điều chỉnh giảm tỷ giá tham khảo bán ra.

Thị trường tiền tệ tuần 21-25/11: Có ngân hàng giảm lãi suất, tỷ giá tiếp tục đi xuống
NHNN đôn đốc giải ngân tín dụng, nhưng định hướng vào lĩnh vực sản xuất. Ảnh: T.L

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh theo xu hướng giảm nhẹ từng phiên trong các ngày trong tuần qua, chốt phiên cuối tuần, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức 23.669 đồng/USD, thấp hơn 6 đồng mỗi đô la so với trước đó 1 tuần.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá niêm yết cũng được điều giảm theo xu hướng giảm nhẹ, đồng thời khoảng cách tỷ giá mua vào/bán ra cũng được nhiều ngân hàng thu hẹp hơn. Khi các ngân hàng thu hẹp khoảng cách mua vào/bán ra USD thể hiện sự đánh của những ngân hàng này về rủi ro biến động tỷ là thấp, điều này tiếp tục củng cố lòng tin về sự ổn định tỷ giá trong giai đoạn hiện nay.

Giá vàng tăng giảm đan xen

Giá vàng có những phiên tăng giảm đan xen trong tuần, đến thời điểm cuối tuần, giá vàng SJC được các doanh nghiệp niêm yết mua vào 66,6 triệu đồng/lượng, bán ra 67,6 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá vàng hôm 25/11 theo đó thấp hơn khoảng 100 nghìn đồng/lượng so với trước đó 1 tuần.

Diễn biến cụ thể trong tuần cho thấy, mở cửa tuần giao dịch 21/11, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết mua vào 66,6 triệu đồng/lượng, bán ra 67,6 triệu đồng/lượng, ổn định so với cuối tuần trước. Đến ngày thứ ba 22/11, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết mua vào 66,5 triệu đồng/lượng, bán ra 67,5 triệu đồng/lượng, giảm 100.000 đồng mỗi lượng so với hôm trước. Sau đó, giá vàng tiếp tục giảm vào hôm thứ tư, nhưng tăng trở lại vào ngày hôm sau và giữ trạng thái ổn định trong phiên hôm thứ sáu cuối tuần.

Thông tin trên thị trường tài chính quốc tế có thể có những tác động lên giá vàng trong những ngày cuối tuần là những kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ làm chậm tốc độ tăng lãi suất, bắt đầu từ tháng 12/2022. Động thái này được dự báo thể khiến giới đầu tư sẽ ít quan tâm đến USD hơn và dòng tiền theo đó có thể chuyển hướng sang vàng.

Điều hành tín dụng sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể

Trong nội dung văn bản của NHNN gửi các tổ chức tín dụng, thời gian tới, NHNN sẽ căn cứ vào diễn biến tình hình của hệ thống và của từng tổ chức tín dụng để có giải pháp điều hành phù hợp theo chủ trương của Chính phủ.

NHNN cho biết các ngân hàng vẫn còn dư địa nguồn vốn cần tích cực giải ngân tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ. Tuy nhiên, việc giải ngân vốn phải đảm bảo thanh khoản ổn định, an toàn hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 11/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.596 đồng, USD tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt đi lên, còn chỉ số DXY vượt 99 điểm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5%, lần tăng thứ hai năm nay, để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất, trong bối cảnh giá dầu tiến sát 110 USD/thùng.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (9/9): Tỷ giá trung tâm rời mốc 25.600 đồng, kỳ vọng ECB tăng lãi suất gây sức ép lên USD

Tỷ giá USD hôm nay (9/9): Tỷ giá trung tâm rời mốc 25.600 đồng, kỳ vọng ECB tăng lãi suất gây sức ép lên USD

(TBTCO) - Sáng 9/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng xuống 25.594 đồng, mất mốc 25.600 đồng sau nhiều phiên neo cao; USD tại các ngân hàng giảm mạnh hơn. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,08% xuống 98,78 điểm, đồng USD chịu thêm sức ép khi kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 2,5% đang hỗ trợ đồng euro.
Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/9, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng, xuống 25.603 đồng/USD; USD tại ngân hàng và thị trường tự do cùng đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,08%, xuống 98,85 điểm. Đồng yên Nhật tiếp tục mạnh lên, kéo tỷ giá USD/JPY xuống gần 153,5 - thấp nhất 6 tháng, khi Nhật Bản chi kỷ lục 98 tỷ USD can thiệp và thị trường kỳ vọng BoJ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.
Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

(TBTCO) - Sáng 7/9, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần tăng 6 đồng, lên 25.611 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,05% xuống 99,14 điểm. Tâm điểm tuần này là CPI Mỹ tháng 8, dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng trước cuộc họp ngày 16/9, khi thị trường nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17954 18229 18813
CAD 18131 18406 19025
CHF 31088 31466 32121
CNY 0 3823 3920
EUR 29302 29522 30603
GBP 34164 34554 35492
HKD 0 3178 3380
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14654 15245
SGD 19852 20134 20704
THB 694 757 811
USD (1,2) 25690 0 0
USD (5,10,20) 25728 0 0
USD (50,100) 25756 25770 26140
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25775 26135
AUD 18140 18240 19163
CAD 18313 18413 19427
CHF 31330 31360 32938
CNY 3806.1 3831.1 3966.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29484 29514 31236
GBP 34459 34509 36267
HKD 0 3305 0
JPY 163.96 164.46 174.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14758 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20012 20142 20864
THB 0 723.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14950000
SBJ 13000000 13000000 14950000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,897
USD20 25,678 25,828 26,897
USD1 24,337 25,828 26,897
AUD 18,208 18,308 19,421
EUR 29,344 29,444 31,104
CAD 18,283 18,383 19,693
SGD 20,139 20,289 20,845
JPY 165.02 166.52 172.09
GBP 34,453 34,603 35,672
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30