Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trong nước hạ nhiệt, Fed “im lặng” khiến lãi suất khó đoán

Trong tuần qua (từ ngày 7 - 11/9), tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai liên tiếp, mất 9 đồng, xuống 25.596 đồng/USD, sau mức giảm 5 đồng của tuần trước. Diễn biến trong tuần khá giằng co, khi tỷ giá tăng ở phiên đầu và cuối tuần, xen giữa là 3 phiên giảm liên tiếp.

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng giảm mạnh trong tuần. Tại Vietcombank, tỷ giá USD mua vào - bán ra chốt ở 25.700 - 26.110 VND/USD, cùng giảm 145 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở 25.730 - 26.110 VND/USD, cùng giảm 150 đồng.

Trên thị trường tự do, USD cũng đi xuống nhưng biên độ hẹp hơn, giảm 50 đồng trong tuần, chốt ngày 11/9 ở 25.720 - 25.760 VND/USD. Đáng chú ý, giá bán USD tự do tiếp tục thấp hơn 350 đồng so với mức bán ra tại các ngân hàng thương mại.

Trong báo cáo tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, việc tỷ giá trong nước gần như không phản ứng với những biến động khá lớn của USD và lợi suất quốc tế cho thấy cung - cầu ngoại tệ hiện vẫn tương đối thuận lợi, trong bối cảnh các ngân hàng thương mại đã và đang đẩy mạnh các hoạt động vay hợp vốn quốc tế với giá trị khoảng 3,4 tỷ USD từ đầu năm tới nay.

Còn theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán SHS, đà giải ngân tích cực của dòng vốn FDI và việc một số ngân hàng huy động được ngoại tệ thông qua các khoản tín dụng với nước ngoài đã giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn là yếu tố chính hỗ trợ thị trường trong nước.

“Fed không cung cấp một công cụ định hướng chính sách (Forward Guidance) rõ ràng về đường đi của lãi suất, thị trường buộc phải tự xây dựng kỳ vọng từ từng dữ liệu và từng phát biểu của các quan chức. Hệ quả là kỳ vọng về lãi suất có thể thay đổi rất nhanh, ngay cả khi các yếu tố nền tảng chưa thực sự thay đổi tương ứng” - nhóm phân tích của VDSC đánh giá.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt gồm EUR, JPY, GBP, CAD, SEK và CHF - tăng nhẹ 0,11%, lên trên 99,15 điểm.

Thị trường đang tập trung vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 của Mỹ, dự kiến được Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố vào thứ Sáu. CPI được dự báo tăng 0,4% so với tháng trước, cao hơn mức 0,1% của tháng 7, trong khi mức tăng so với cùng kỳ được kỳ vọng giữ ở 3,4%. CPI cơ bản, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, được dự báo tăng 0,2% so với tháng trước và 2,4% so với cùng kỳ.

Bất kỳ chênh lệch đáng kể nào so với dự báo lạm phát đều có thể làm thay đổi kỳ vọng về quyết định lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó tạo thêm biến động cho đồng USD.

Đợt bán tháo trên thị trường trái phiếu toàn cầu càng gia tăng sau khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 8 của Mỹ cao hơn dự báo, củng cố kỳ vọng rằng Fed sẽ bắt đầu tăng lãi suất tại cuộc họp vào tuần tới.

Trong bối cảnh đó, sự thiếu vắng tín hiệu định hướng rõ ràng từ Fed càng khiến thị trường nhạy cảm với các dữ liệu kinh tế mới.

Theo Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), sau gần 4 tháng nhậm chức, chủ tịch Fed “thích sự im lặng” và ít đưa ra những quan điểm về lộ trình lãi suất. Điều này đã dẫn đến một số hệ quả trên thị trường tài chính.

Thay vào đó, thị trường phải tự suy luận phản ứng của Fed qua từng dữ liệu và từng phát biểu. Một dữ liệu CPI mạnh hơn kỳ vọng có thể khiến thị trường gia tăng khả năng Fed tăng lãi suất; một phát biểu mang tính thận trọng của một thành viên Fed có thể ngay lập tức kéo kỳ vọng trở lại khả năng giữ nguyên lãi suất.

“Vì vậy, điều đáng chú ý trong môi trường hiện tại không chỉ là Fed sẽ tăng hay giữ nguyên lãi suất. Câu hỏi quan trọng hơn là: kỳ vọng đó ổn định đến mức nào?” - nhóm phân tích của VDSC đặt vấn đề.

Hút ròng 33.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng vẫn giảm sâu

Trên kênh cầm cố giấy tờ có giá, tuần qua, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng hơn 47.259 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày, lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng đáo hạn lên tới hơn 80.259,67 tỷ đồng, cao hơn đáng kể lượng phát hành mới.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 33.001 tỷ đồng khỏi hệ thống qua kênh thị trường mở (OMO). Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh này còn khoảng 215.031 tỷ đồng.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Lãi suất qua đêm hiện vẫn dưới 2%. Ảnh: Đức Thanh.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng đồng thời hạ nhiệt rõ rệt, với lãi suất giảm ở tất cả các kỳ hạn.

Theo số liệu gần nhất (ngày 10/9), lãi suất qua đêm giảm xuống 1,68%/năm, thấp hơn 2,94 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 2,24 điểm phần trăm, xuống 2,7%/năm; kỳ hạn 2 tuần giảm 2,21 điểm phần trăm, xuống 3,72%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên hàng cũng hạ nhiệt. Lãi suất liên ngân hàng 1 tháng giảm 1 điểm phần trăm xuống 5,27%/năm và 3 tháng giảm 0,75 điểm phần trăm xuống 6,42%/năm.

Doanh số giao dịch liên ngân hàng vẫn duy trì trên 900.000 tỷ đồng trong hầu hết các phiên, cho thấy giao dịch sôi động trong khi áp lực thanh khoản ngắn hạn giảm đáng kể.

Theo Chứng khoán Yuanta, thanh khoản ngắn hạn tiếp tục hạ nhiệt đáng kể sau giai đoạn căng thẳng cuối quý II/2026.

“Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn có thể duy trì ở vùng thấp hơn so với cuối quý II/2026. Tuy nhiên, lãi suất trên thị trường 1 sau đợt giảm nhẹ vừa qua sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong những tháng tới do tín dụng tiếp tục được thúc đẩy và áp lực cân đối vốn trung - dài hạn vẫn hiện hữu” - nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Đáng chú ý, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ áp dụng cơ chế tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng nhằm hỗ trợ thanh khoản, cho vay đối với các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời hỗ trợ cơ cấu lại các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Theo đánh giá, công cụ này có thể được sử dụng nhiều hơn trong thời gian tới để hỗ trợ thanh khoản cho một số tổ chức tín dụng tham gia tài trợ các dự án lớn.

Khảo sát mặt bằng lãi suất trên thị trường 1, Chứng khoán Yuanta cho rằng, lãi suất giảm nhẹ vào giữa tháng 8, khi Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ căn cứ vào mức độ tuân thủ chỉ đạo giảm lãi suất cho vay để phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027.

Tuy nhiên, gần đây, xu hướng tăng nhẹ ở lãi suất chứng chỉ tiền gửi và các chương trình cộng thêm lãi suất mới tiếp tục được triển khai, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn kỳ hạn dài hơn chưa được giải tỏa hoàn toàn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

(TBTCO) - Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, Luật Bảo bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 (Luật BHTG năm 2025) có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, điều chỉnh thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, rút ngắn thời hạn chi trả và quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục. Những thay đổi này tạo cơ sở để người gửi tiền được tiếp cận khoản tiền bảo hiểm sớm hơn. Dưới đây là những nội dung người gửi tiền cần lưu ý.
Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm Agribank (ABIC) lãi trước thuế 333,2 tỷ đồng, tăng 33%, hoàn thành 95,2% kế hoạch năm. Động lực đến từ kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài chính, với danh mục đầu tư ngắn hạn hơn 3.800 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng. ABIC đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

(TBTCO) - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đối tác công nghệ Fermion Merimen tổ chức Lễ ký kết triển khai Hệ thống chiết khấu không khiếu nại (NCD), với sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Sự kiện đánh dấu bước tiến trong hợp tác xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá rủi ro, định phí và phục vụ khách hàng.
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trước quy định mới về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Các quy định mới về phòng, chống rửa tiền đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp bảo hiểm trong việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi, nhận biết khách hàng, kiểm soát giao dịch... Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro, bảo vệ quyền lợi khách hàng, mà còn góp phần củng cố niềm tin vào thị trường bảo hiểm.
Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam lần thứ 9 – Vietnam Digital Awards 2026, hạng mục Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp Lumi – AI Customer Experience Platform (Lumi). Giải thưởng ghi nhận hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm mang lại trải nghiệm chăm sóc khách hàng vượt trội, nhanh chóng và thuận tiện.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Hà Nội - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Miền Tây - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,400 ▼200K 141,400 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▲100K 14,300 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,780 ▲80K 14,180 ▲80K
Trang sức 99.9 13,460 ▲80K 14,060 ▲80K
Trang sức 99.99 13,470 ▲80K 14,070 ▲80K
Vàng 99.9 12,980 ▲80K
Vàng 99.99 13,150 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▲1258K 14,272 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▲1258K 14,273 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 136 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 136 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▲1K 139 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲990K 137,624 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▲75K 10,441 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲680K 94,679 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲610K 84,948 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲583K 81,195 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲417K 58,119 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cập nhật: 28/10/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17642 17915 18495
CAD 17842 18116 18733
CHF 30495 30871 31518
CNY 0 3833 3928
EUR 28122 28338 29412
GBP 33569 33958 34900
HKD 0 3163 3365
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14184 14775
SGD 19622 19903 20468
THB 679 743 795
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,171 28,194 29,535
JPY 159.11 159.4 169.05
GBP 33,750 33,841 35,009
AUD 17,834 17,898 18,576
CAD 18,031 18,089 18,756
CHF 30,742 30,838 31,761
SGD 19,737 19,798 20,577
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.8 18.56 20.2
THB 727.98 736.97 789.16
NZD 14,176 14,308 14,737
SEK - 2,550 2,643
DKK - 3,779 3,913
NOK - 2,722 2,818
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.71 - 6,672.12
TWD 719.51 - 871.78
SAR - 6,766.5 7,128.82
KWD - 81,593 86,830
AED - 6,781 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,610 25,640 26,020
EUR 28,137 28,278 29,505
GBP 33,705 33,874 34,906
HKD 3,219 3,238 3,356
CHF 30,584 30,738 31,682
JPY 158.73 160.33 168.31
AUD 17,787 17,912 18,510
SGD 19,702 19,881 20,477
THB 733 748 785
CAD 17,987 18,114 18,712
NZD 14,231 14,785
KRW 18.70 20.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26020
AUD 17842 17942 18873
CAD 18032 18132 19146
CHF 30748 30778 32359
CNY 3814.8 3839.8 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28288 28318 30040
GBP 33864 33914 35682
HKD 0 3300 0
JPY 160.14 160.64 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14463 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19781 19911 20632
THB 0 709.1 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,549 25,669 25,970
USD20 25,519 25,669 25,970
USD1 25,499 25,669 25,970
AUD 17,757 17,907 19,086
EUR 28,088 28,188 29,630
CAD 17,975 18,075 19,384
SGD 19,857 20,007 20,564
JPY 160.56 162.06 167.63
GBP 33,763 33,913 34,991
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/10/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30