Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
aa

Tỷ giá trung tâm tăng 1,9%, USD ngân hàng và tự do ngược chiều hiếm thấy

Ngày 8/9, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.603 đồng, tiếp tục neo sát vùng đỉnh lịch sử, tăng 482 đồng, tương đương khoảng 1,9% so với đầu năm.

Sau hai tháng đầu năm hạ nhiệt, tỷ giá trung tâm đảo chiều đi lên và đến nay đã tăng tổng cộng 565 đồng, tương đương 2,26% so với đáy đầu tháng 3, trong bối cảnh xung đột Mỹ - Iran gia tăng bất ổn bên ngoài, đồng USD mạnh lên và chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - nhiều lần vượt mốc 100 điểm.

Diễn biến này càng đáng chú ý khi cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang nhập siêu lớn, làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu
Nguồn: Techcombank. Đồ họa tư liệu

Tuy nhiên, tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do lại đi ngược chiều tăng của tỷ giá trung tâm, một diễn biến khá hiếm thấy. Theo đó, USD tự do từng tăng nóng cùng “cơn sốt” giá vàng, có thời điểm vượt 28.000 đồng ở chiều bán cuối tháng 3/2026. Khi đó, giá vàng trong nước có lúc cao hơn thế giới tới 20 triệu đồng/lượng, nhưng người dân vẫn lũ lượt xếp hàng chờ mua, chấp nhận mức chênh lệch rất cao.

Sau đó, cùng với đà hạ nhiệt của giá vàng thế giới, thị trường vàng trong nước được chấn chỉnh, siết chặt kỷ luật, với những kết luận thanh tra diện rộng chỉ rõ hàng loạt vi phạm tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.

Đến nay, USD tự do hạ nhiệt đáng kể, còn 25.740 - 25.780 VND/USD, giảm hơn 2.300 đồng, tương đương khoảng 8% so với đỉnh.

Với các ngân hàng thương mại, từ cuối tháng 7/2026, tỷ giá USD bán ra lùi xa mức trần cho phép, hiện thấp hơn khoảng 700 đồng, thay vì thường xuyên bám sát trần như giai đoạn trước.

Đây là diễn biến khá hiếm trong nhiều năm trở lại đây, bởi tỷ giá tại các ngân hàng trong nước từng chịu áp lực tăng kéo dài, nhất là trong giai đoạn Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và nhiều ngân hàng trung ương lớn nâng lãi suất và giữ ở mặt bằng cao để kiềm chế lạm phát, qua đó, đẩy đồng USD mạnh lên trên thị trường quốc tế.

Lãi suất thêm lực đỡ, sức ép từ nhập siêu

Theo giới phân tích, cung - cầu USD trên thị trường đã cân bằng hơn. Khi đó, các ngân hàng thương mại giảm nhu cầu mua USD từ Ngân hàng Nhà nước, thậm chí có thể bán phần ngoại tệ dư thừa cho nhà điều hành. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước có thêm điều kiện mua vào ngoại tệ, bổ sung dự trữ ngoại hối, chỉ hơn 86 tỷ USD cuối tháng 6/2026; đồng thời đưa VND ra hệ thống, hỗ trợ thanh khoản và mặt bằng lãi suất.

Việc củng cố dự trữ ngoại hối càng đáng chú ý trong bối cảnh nhập khẩu tăng mạnh và cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu từ cuối năm 2025 đến nay, làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Với kim ngạch nhập khẩu bình quân lên tới 150 tỷ USD trong 3 tháng, quy mô dự trữ hiện tại thấp hơn đáng kể ngưỡng khuyến nghị.

Bên cạnh đó, theo Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính - nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank, việc lãi suất chỉ giảm ở mức tương đối nhẹ cũng là tiền đề giúp tỷ giá duy trì ổn định.

VND được dự báo mất giá 1 - 2%, trong vùng kiểm soát

Chúng tôi đánh giá đến hết năm 2026, rủi ro mất giá của VND ở mức khoảng 1 - 2% và đây cũng là vùng biến động có thể kiểm soát được để không ảnh hưởng quá lớn đến sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank

Bộ phận phân tích Techcombank cũng giữ nguyên quan điểm Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong năm nay, giúp định hình lại vùng kỳ vọng đối với DXY ở mức dưới 100 điểm từ nay đến cuối năm. Việc không tạo ra áp lực lớn về mặt tâm lý là một điểm cộng với sự ổn định của tỷ giá trong phần còn lại của năm.

“Trong kịch bản Fed không tăng lãi suất, trong khi lãi suất VND chỉ giảm nhẹ, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn có thể duy trì ở mức cao trên 3%. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp tỷ giá ổn định trong thời gian qua, khi góp phần thu hút nguồn cung USD từ bên ngoài, qua đó, bù đắp một phần cho trạng thái thâm hụt thương mại” - đại diện Techcombank kỳ vọng.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank cho rằng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi định hướng cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá luôn được đặt trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu.

Bên cạnh đó, chính sách tài khóa cũng được thúc đẩy trong giải ngân đầu tư công, cùng với sự hỗ trợ từ dòng vốn FDI và tăng trưởng xuất khẩu.

Dù bên cạnh có nhiều yếu tố hỗ trợ, PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân - Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) vẫn lưu ý, có những phiên tỷ giá trung tâm vẫn tăng ngay cả khi chỉ số DXY giảm, cho thấy áp lực lên VND không chỉ đến từ đồng USD quốc tế, mà còn từ cầu ngoại tệ trong nước, nhập siêu hàng hóa và trạng thái điều hành tỷ giá.

Nói cách khác, ngay cả khi Fed dừng tăng lãi suất và tỷ giá đồng USD quốc tế hạ nhiệt, VND vẫn có thể chịu áp lực riêng từ chính “sức khỏe” cán cân thương mại và dòng vốn nội địa - đây là điểm mà các nhà chính sách cần lưu tâm.

“Việc hạ lãi suất VND quá nhanh trong lúc áp lực nhập siêu và cầu ngoại tệ nội địa chưa hạ nhiệt sẽ làm giảm sức hấp dẫn của VND, có nguy cơ khiến dòng vốn dịch chuyển và gây thêm áp lực lên tỷ giá” - bà Ngân lưu ý.

Nhập siêu hơn 21 tỷ USD, cán cân thanh toán cho thấy những lực đỡ

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng năm 2026 nhập siêu 21,49 tỷ USD, đảo chiều so với mức xuất siêu 14,02 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

Mức nhập siêu lớn chủ yếu đến từ nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất và đầu tư, trong đó máy vi tính, điện tử và linh kiện nhập siêu 60,59 tỷ USD, gấp 2,1 lần cùng kỳ; nguyên, nhiên liệu nhập siêu 20,99 tỷ USD, tăng 56,9%; hóa chất, chất dẻo, kim loại, sắt thép... nhập siêu 33,13 tỷ USD, tăng 23,8%.

Xét theo khu vực kinh tế, khu vực FDI vẫn xuất siêu 8,68 tỷ USD, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu tới 30,17 tỷ USD. Diễn biến này được lý giải chủ yếu bởi biến động giá xăng dầu, chip và linh kiện điện tử, cùng việc doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu để phục vụ sản xuất, mở rộng đầu tư và dự phòng rủi ro.

Điều đáng chú ý là nhập siêu tăng mạnh, nhưng áp lực tỷ giá chưa quá căng thẳng, khiến diễn biến cung - cầu ngoại tệ khó lý giải, nếu chỉ nhìn vào cán cân thương mại hàng hóa.

Đến khi số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý I/2026 được Ngân hàng Nhà nước công bố, bức tranh này mới phần nào sáng rõ. Theo đó, sự suy yếu của cán cân hàng hóa được bù đắp bởi các nguồn ngoại tệ khác trong cán cân vãng lai và cán cân tài chính, qua đó, tạo bộ đệm cho thị trường ngoại hối và góp phần hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Theo đó, trong quý I/2026, cán cân tổng thể thâm hụt 1,078 tỷ USD, thu hẹp 35,9% so với cùng kỳ. Trong đó, cán cân vãng lai vẫn duy trì thặng dư 2,716 tỷ USD, dù giảm 43,7%. Trong đó, thặng dư hàng hóa giảm mạnh 70,9%, xuống còn 2,434 tỷ USD và là mức thấp kỷ lục trong nhiều năm.

Đáng chú ý, cán cân tài chính chuyển từ thâm hụt 4,887 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang thặng dư 893 triệu USD. Riêng đầu tư trực tiếp ròng đạt 4,18 tỷ USD, tăng 10,1%.

Điều này cho thấy, dù nguồn ngoại tệ từ xuất nhập khẩu suy giảm, dòng vốn FDI cùng các nguồn tiền chuyển từ nước ngoài vào vẫn giúp bù đắp một phần, qua đó giảm sức ép lên cung - cầu ngoại tệ và tỷ giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

(TBTCO) - Từ gần bốn thập kỷ kinh nghiệm trên nhiều thị trường tài chính quốc tế đến vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị HDBank, ông Kim Byoungho ghi dấu ấn ở khả năng kết nối các chuẩn mực quản trị toàn cầu với thực tiễn Việt Nam, trong một giai đoạn HDBank tăng tốc về quy mô, hiệu quả và hội nhập.
VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

(TBTCO) - Công ty TNHH Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank (VCBF) đã kết thúc đợt chào bán lần đầu (IPO) của Quỹ Đầu tư Tối ưu Dòng tiền VCBF (VCBF-CFO), dự kiến bắt đầu giao dịch từ tháng 10/2026. Quỹ được thiết kế cho những khoản tiền nhàn rỗi ngắn hạn của doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân: có thể đặt lệnh bán/giao dịch hằng ngày; thời gian tiền về theo quy định của quỹ; đầu tư vào tài sản rủi ro thấp và được quản lý chuyên nghiệp.
Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

(TBTCO) - Thị trường carbon đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với bài toán vốn cho chuyển đổi xanh: biến kết quả giảm phát thải thành một giá trị có thể được ghi nhận, giao dịch và từng bước đi vào quyết định đầu tư. Nhưng để điều đó xảy ra, Việt Nam cần cả hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn, định giá, tín dụng và thị trường vốn đủ tin cậy để biến giá trị carbon thành tín hiệu tài chính.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn tại các doanh nghiệp không thay đổi so với phiên trước, lần lượt giao dịch trong khoảng 141 - 144,8 triệu đồng/lượng và 139,6 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

(TBTCO) - Ngày càng tự chủ mảng bảo hiểm, các ngân hàng có nhiều lợi thế phát triển bảo hiểm nhúng tại các "điểm chạm", ngay từ quá trình chuyển khoản. Tuy nhiên, cách triển khai đang khiến khách hàng thêm bận tâm thay vì an tâm, đòi hỏi bảo hiểm nhúng trên app ngân hàng phải được thiết kế minh bạch, tách bạch với giao dịch chính và đảm bảo tính tự nguyện.
Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.195 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến trái chiều.
Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

(TBTCO) - Vietcombank chính thức đồng hành cùng Fan Meeting đầu tiên của Quán Nhà Haha, mang đến hàng nghìn cơ hội sở hữu vé và những trải nghiệm đặc biệt cho khách hàng thông qua chuỗi chương trình khuyến mại dành riêng cho khách hàng Vietcombank.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 143,800
Hà Nội - PNJ 140,800 143,800
Đà Nẵng - PNJ 140,800 143,800
Miền Tây - PNJ 140,800 143,800
Tây Nguyên - PNJ 140,800 143,800
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 143,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,940 14,340
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,940 14,340
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,620 14,220
Trang sức 99.99 13,630 14,230
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 1,428
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 141,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 107,261
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 97,264
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 87,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 83,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 59,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17540 17812 18391
CAD 17650 17924 18542
CHF 30484 30860 31505
CNY 0 3832 3928
EUR 28362 28579 29662
GBP 33512 33900 34837
HKD 0 3173 3376
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14787
SGD 19710 19992 20563
THB 687 750 803
USD (1,2) 25670 0 0
USD (5,10,20) 25708 0 0
USD (50,100) 25736 25750 26120
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,725 25,725 26,105
USD(1-2-5) 24,696 - -
USD(10-20) 24,696 - -
EUR 28,426 28,449 29,801
JPY 159.07 159.36 169
GBP 33,690 33,781 34,949
AUD 17,726 17,790 18,471
CAD 17,825 17,882 18,544
CHF 30,743 30,839 31,761
SGD 19,814 19,876 20,665
CNY - 3,797 3,943
HKD 3,235 3,245 3,381
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.32 744.4 797.09
NZD 14,195 14,327 14,750
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,813 3,948
NOK - 2,657 2,754
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.63 - 6,694.63
TWD 732.73 - 887.77
SAR - 6,781.41 7,144.03
KWD - 81,832 87,080
AED - 6,800 7,328
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25750 26110
AUD 17721 17821 18751
CAD 17826 17926 18940
CHF 30714 30744 32332
CNY 3814.1 3839.1 3974.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28545 28575 30298
GBP 33816 33866 35624
HKD 0 3315 0
JPY 160 160.5 171.02
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14316 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19867 19997 20720
THB 0 716 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Cập nhật: 13/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30