Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
aa

Tỷ giá trung tâm tăng 1,9%, USD ngân hàng và tự do ngược chiều hiếm thấy

Ngày 8/9, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.603 đồng, tiếp tục neo sát vùng đỉnh lịch sử, tăng 482 đồng, tương đương khoảng 1,9% so với đầu năm.

Sau hai tháng đầu năm hạ nhiệt, tỷ giá trung tâm đảo chiều đi lên và đến nay đã tăng tổng cộng 565 đồng, tương đương 2,26% so với đáy đầu tháng 3, trong bối cảnh xung đột Mỹ - Iran gia tăng bất ổn bên ngoài, đồng USD mạnh lên và chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - nhiều lần vượt mốc 100 điểm.

Diễn biến này càng đáng chú ý khi cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang nhập siêu lớn, làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu
Nguồn: Techcombank. Đồ họa tư liệu

Tuy nhiên, tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do lại đi ngược chiều tăng của tỷ giá trung tâm, một diễn biến khá hiếm thấy. Theo đó, USD tự do từng tăng nóng cùng “cơn sốt” giá vàng, có thời điểm vượt 28.000 đồng ở chiều bán cuối tháng 3/2026. Khi đó, giá vàng trong nước có lúc cao hơn thế giới tới 20 triệu đồng/lượng, nhưng người dân vẫn lũ lượt xếp hàng chờ mua, chấp nhận mức chênh lệch rất cao.

Sau đó, cùng với đà hạ nhiệt của giá vàng thế giới, thị trường vàng trong nước được chấn chỉnh, siết chặt kỷ luật, với những kết luận thanh tra diện rộng chỉ rõ hàng loạt vi phạm tại các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.

Đến nay, USD tự do hạ nhiệt đáng kể, còn 25.740 - 25.780 VND/USD, giảm hơn 2.300 đồng, tương đương khoảng 8% so với đỉnh.

Với các ngân hàng thương mại, từ cuối tháng 7/2026, tỷ giá USD bán ra lùi xa mức trần cho phép, hiện thấp hơn khoảng 700 đồng, thay vì thường xuyên bám sát trần như giai đoạn trước.

Đây là diễn biến khá hiếm trong nhiều năm trở lại đây, bởi tỷ giá tại các ngân hàng trong nước từng chịu áp lực tăng kéo dài, nhất là trong giai đoạn Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và nhiều ngân hàng trung ương lớn nâng lãi suất và giữ ở mặt bằng cao để kiềm chế lạm phát, qua đó, đẩy đồng USD mạnh lên trên thị trường quốc tế.

Lãi suất thêm lực đỡ, sức ép từ nhập siêu

Theo giới phân tích, cung - cầu USD trên thị trường đã cân bằng hơn. Khi đó, các ngân hàng thương mại giảm nhu cầu mua USD từ Ngân hàng Nhà nước, thậm chí có thể bán phần ngoại tệ dư thừa cho nhà điều hành. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước có thêm điều kiện mua vào ngoại tệ, bổ sung dự trữ ngoại hối, chỉ hơn 86 tỷ USD cuối tháng 6/2026; đồng thời đưa VND ra hệ thống, hỗ trợ thanh khoản và mặt bằng lãi suất.

Việc củng cố dự trữ ngoại hối càng đáng chú ý trong bối cảnh nhập khẩu tăng mạnh và cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu từ cuối năm 2025 đến nay, làm gia tăng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Với kim ngạch nhập khẩu bình quân lên tới 150 tỷ USD trong 3 tháng, quy mô dự trữ hiện tại thấp hơn đáng kể ngưỡng khuyến nghị.

Bên cạnh đó, theo Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính - nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank, việc lãi suất chỉ giảm ở mức tương đối nhẹ cũng là tiền đề giúp tỷ giá duy trì ổn định.

VND được dự báo mất giá 1 - 2%, trong vùng kiểm soát

Chúng tôi đánh giá đến hết năm 2026, rủi ro mất giá của VND ở mức khoảng 1 - 2% và đây cũng là vùng biến động có thể kiểm soát được để không ảnh hưởng quá lớn đến sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank

Bộ phận phân tích Techcombank cũng giữ nguyên quan điểm Fed sẽ giữ nguyên lãi suất trong năm nay, giúp định hình lại vùng kỳ vọng đối với DXY ở mức dưới 100 điểm từ nay đến cuối năm. Việc không tạo ra áp lực lớn về mặt tâm lý là một điểm cộng với sự ổn định của tỷ giá trong phần còn lại của năm.

“Trong kịch bản Fed không tăng lãi suất, trong khi lãi suất VND chỉ giảm nhẹ, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn có thể duy trì ở mức cao trên 3%. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp tỷ giá ổn định trong thời gian qua, khi góp phần thu hút nguồn cung USD từ bên ngoài, qua đó, bù đắp một phần cho trạng thái thâm hụt thương mại” - đại diện Techcombank kỳ vọng.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank cho rằng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo đuổi định hướng cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá luôn được đặt trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu.

Bên cạnh đó, chính sách tài khóa cũng được thúc đẩy trong giải ngân đầu tư công, cùng với sự hỗ trợ từ dòng vốn FDI và tăng trưởng xuất khẩu.

Dù bên cạnh có nhiều yếu tố hỗ trợ, PGS. TS. Nguyễn Bích Ngân - Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) vẫn lưu ý, có những phiên tỷ giá trung tâm vẫn tăng ngay cả khi chỉ số DXY giảm, cho thấy áp lực lên VND không chỉ đến từ đồng USD quốc tế, mà còn từ cầu ngoại tệ trong nước, nhập siêu hàng hóa và trạng thái điều hành tỷ giá.

Nói cách khác, ngay cả khi Fed dừng tăng lãi suất và tỷ giá đồng USD quốc tế hạ nhiệt, VND vẫn có thể chịu áp lực riêng từ chính “sức khỏe” cán cân thương mại và dòng vốn nội địa - đây là điểm mà các nhà chính sách cần lưu tâm.

“Việc hạ lãi suất VND quá nhanh trong lúc áp lực nhập siêu và cầu ngoại tệ nội địa chưa hạ nhiệt sẽ làm giảm sức hấp dẫn của VND, có nguy cơ khiến dòng vốn dịch chuyển và gây thêm áp lực lên tỷ giá” - bà Ngân lưu ý.

Nhập siêu hơn 21 tỷ USD, cán cân thanh toán cho thấy những lực đỡ

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng năm 2026 nhập siêu 21,49 tỷ USD, đảo chiều so với mức xuất siêu 14,02 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

Mức nhập siêu lớn chủ yếu đến từ nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất và đầu tư, trong đó máy vi tính, điện tử và linh kiện nhập siêu 60,59 tỷ USD, gấp 2,1 lần cùng kỳ; nguyên, nhiên liệu nhập siêu 20,99 tỷ USD, tăng 56,9%; hóa chất, chất dẻo, kim loại, sắt thép... nhập siêu 33,13 tỷ USD, tăng 23,8%.

Xét theo khu vực kinh tế, khu vực FDI vẫn xuất siêu 8,68 tỷ USD, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu tới 30,17 tỷ USD. Diễn biến này được lý giải chủ yếu bởi biến động giá xăng dầu, chip và linh kiện điện tử, cùng việc doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu để phục vụ sản xuất, mở rộng đầu tư và dự phòng rủi ro.

Điều đáng chú ý là nhập siêu tăng mạnh, nhưng áp lực tỷ giá chưa quá căng thẳng, khiến diễn biến cung - cầu ngoại tệ khó lý giải, nếu chỉ nhìn vào cán cân thương mại hàng hóa.

Đến khi số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý I/2026 được Ngân hàng Nhà nước công bố, bức tranh này mới phần nào sáng rõ. Theo đó, sự suy yếu của cán cân hàng hóa được bù đắp bởi các nguồn ngoại tệ khác trong cán cân vãng lai và cán cân tài chính, qua đó, tạo bộ đệm cho thị trường ngoại hối và góp phần hạn chế áp lực lên tỷ giá.

Theo đó, trong quý I/2026, cán cân tổng thể thâm hụt 1,078 tỷ USD, thu hẹp 35,9% so với cùng kỳ. Trong đó, cán cân vãng lai vẫn duy trì thặng dư 2,716 tỷ USD, dù giảm 43,7%. Trong đó, thặng dư hàng hóa giảm mạnh 70,9%, xuống còn 2,434 tỷ USD và là mức thấp kỷ lục trong nhiều năm.

Đáng chú ý, cán cân tài chính chuyển từ thâm hụt 4,887 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang thặng dư 893 triệu USD. Riêng đầu tư trực tiếp ròng đạt 4,18 tỷ USD, tăng 10,1%.

Điều này cho thấy, dù nguồn ngoại tệ từ xuất nhập khẩu suy giảm, dòng vốn FDI cùng các nguồn tiền chuyển từ nước ngoài vào vẫn giúp bù đắp một phần, qua đó giảm sức ép lên cung - cầu ngoại tệ và tỷ giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

Chi trả bảo hiểm tiền gửi sớm hơn – Những điểm mới người gửi tiền cần lưu ý

(TBTCO) - Nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, Luật Bảo bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 (Luật BHTG năm 2025) có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, điều chỉnh thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, rút ngắn thời hạn chi trả và quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục. Những thay đổi này tạo cơ sở để người gửi tiền được tiếp cận khoản tiền bảo hiểm sớm hơn. Dưới đây là những nội dung người gửi tiền cần lưu ý.
Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

Bảo hiểm Agribank báo lãi hơn 333 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu áp sát "vạch đích"

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm Agribank (ABIC) lãi trước thuế 333,2 tỷ đồng, tăng 33%, hoàn thành 95,2% kế hoạch năm. Động lực đến từ kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài chính, với danh mục đầu tư ngắn hạn hơn 3.800 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng. ABIC đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả giải quyết bồi thường, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thúc đẩy chia sẻ dữ liệu bảo hiểm xe cơ giới qua hệ thống NCD

(TBTCO) - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đối tác công nghệ Fermion Merimen tổ chức Lễ ký kết triển khai Hệ thống chiết khấu không khiếu nại (NCD), với sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Sự kiện đánh dấu bước tiến trong hợp tác xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu bảo hiểm tự nguyện xe cơ giới, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá rủi ro, định phí và phục vụ khách hàng.
Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

Tổng đài AI Lumi của LPBank thắng Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam lần thứ 9 – Vietnam Digital Awards 2026, hạng mục Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc với giải pháp Lumi – AI Customer Experience Platform (Lumi). Giải thưởng ghi nhận hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm mang lại trải nghiệm chăm sóc khách hàng vượt trội, nhanh chóng và thuận tiện.
Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/10: Giá vàng thế giới tăng trở lại, vàng nhẫn trong nước giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 14 USD/ounce, lên quanh 4.017 USD/ounce. Trong nước, vàng nhẫn tại PNJ giảm 400.000 đồng/lượng, còn vàng miếng DOJI giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 ▼600K 141,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲70K 14,270 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Trang sức 99.9 13,430 ▲50K 14,030 ▲50K
Trang sức 99.99 13,440 ▲50K 14,040 ▲50K
Vàng 99.9 12,980 ▲80K
Vàng 99.99 13,150 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▲1258K 14,272 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▲1258K 14,273 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 136 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 136 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▲1K 139 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲990K 137,624 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▲75K 10,441 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲680K 94,679 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲610K 84,948 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲583K 81,195 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲417K 58,119 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲1258K 1,427 ▲1285K
Cập nhật: 28/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17642 17915 18495
CAD 17842 18116 18733
CHF 30495 30871 31518
CNY 0 3833 3928
EUR 28122 28338 29412
GBP 33569 33958 34900
HKD 0 3163 3365
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14184 14775
SGD 19622 19903 20468
THB 679 743 795
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,171 28,194 29,535
JPY 159.11 159.4 169.05
GBP 33,750 33,841 35,009
AUD 17,834 17,898 18,576
CAD 18,031 18,089 18,756
CHF 30,742 30,838 31,761
SGD 19,737 19,798 20,577
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.8 18.56 20.2
THB 727.98 736.97 789.16
NZD 14,176 14,308 14,737
SEK - 2,550 2,643
DKK - 3,779 3,913
NOK - 2,722 2,818
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.71 - 6,672.12
TWD 719.51 - 871.78
SAR - 6,766.5 7,128.82
KWD - 81,593 86,830
AED - 6,781 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,610 25,640 26,020
EUR 28,137 28,278 29,505
GBP 33,705 33,874 34,906
HKD 3,219 3,238 3,356
CHF 30,584 30,738 31,682
JPY 158.73 160.33 168.31
AUD 17,787 17,912 18,510
SGD 19,702 19,881 20,477
THB 733 748 785
CAD 17,987 18,114 18,712
NZD 14,231 14,785
KRW 18.70 20.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25620 25650 26020
AUD 17842 17942 18873
CAD 18032 18132 19146
CHF 30748 30778 32359
CNY 3814.8 3839.8 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28288 28318 30040
GBP 33864 33914 35682
HKD 0 3300 0
JPY 160.14 160.64 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14463 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19781 19911 20632
THB 0 709.1 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,549 25,669 25,970
USD20 25,519 25,669 25,970
USD1 25,499 25,669 25,970
AUD 17,757 17,907 19,086
EUR 28,088 28,188 29,630
CAD 17,975 18,075 19,384
SGD 19,857 20,007 20,564
JPY 160.56 162.06 167.63
GBP 33,763 33,913 34,991
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30