Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
aa
Thị trường bảo hiểm nhân thọ “sáng dần”, song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn “rùa bò” Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ “Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

Lợi nhuận bứt tốc, nhiều nơi giảm lỗ sâu

Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận trước thuế của 17/20 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã công bố kết quả kinh doanh khởi sắc rõ rệt, tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, song mức độ phân hóa còn lớn, trong khi doanh thu phí bảo hiểm gốc và lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm cốt lõi vẫn suy giảm.

Tuy nhiên, do Manulife, MB Life và TCLife chưa công bố kết quả, còn số liệu của AIA mới là sơ bộ, bức tranh toàn thị trường vẫn chưa hoàn chỉnh.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô, Prudential dẫn đầu với 2.430 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 199,4%, tương đương tăng 1.618,4 tỷ đồng so với cùng kỳ, tạo khoảng cách khá xa so với nhóm doanh nghiệp đứng sau. Kết quả này chủ yếu được nâng đỡ bởi hoạt động tài chính, khi lợi nhuận gộp của Prudential trong hoạt động tài chính tăng mạnh 46,2% lên 5.696,7 tỷ đồng.

Thông tin từ Prudential cho thấy, nửa đầu năm, doanh thu đầu tư đạt 6.078 tỷ đồng, trong đó 1.343 tỷ đồng được chia cho khách hàng Quỹ liên kết đơn vị. Trái lại, mảng bảo hiểm chịu sức ép, khi phí bảo hiểm gốc giảm 13,7% xuống 8.441,9 tỷ đồng và lợi nhuận gộp vẫn âm.

Nửa đầu năm, nhiều doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh, gấp nhiều lần so với cùng kỳ. Đơn cử, AIA ạt 572 tỷ đồng lãi sau thuế (theo số liệu sơ bộ), gấp hơn 10 lần mức 56 tỷ đồng cùng kỳ, qua đó, dần phục hồi về vùng lợi nhuận cao giai đoạn trước. Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam lãi trước thuế 585,2 tỷ đồng, tăng 522,8%; MAP Life đạt 105,6 tỷ đồng, tăng 158,1%; BIDV MetLife đạt 204,5 tỷ đồng, tăng 122,3%.

Xếp sau Prudential, nhóm có lợi nhuận trước thuế trên 1.000 tỷ đồng còn có: Bảo Việt Nhân thọ đạt 1.811,9 tỷ đồng, tăng 50,5%; Daiichi Life đạt 1.508,7 tỷ đồng, tăng 25,4%; Cathay Life đạt 1.045,6 tỷ đồng, tăng 27,5%.

Như vậy, nhóm dẫn đầu không chỉ duy trì quy mô lợi nhuận lớn, mà đều ghi nhận mức tăng trưởng hai con số trở lên so với cùng kỳ.

Ở nhóm tăng mạnh từ nền thấp, Generali ghi nhận bước cải thiện mạnh, khi chuyển từ lỗ 21,8 tỷ đồng cùng kỳ sang lãi 408,5 tỷ đồng, tương đương kết quả kinh doanh cải thiện hơn 430 tỷ đồng chỉ sau một năm.

Động lực chính giúp lợi nhuận Generali “đảo chiều” đến từ lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm tăng 17,7% lên 651,2 tỷ đồng nhờ chi trả bồi thường giảm; trong khi đó, chi phí bán hàng giảm mạnh 41,3% và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 18,5%, qua đó, đưa lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng từ 26,4 tỷ đồng lên 402,8 tỷ đồng. Ngược lại, lợi nhuận gộp tài chính giảm 8,1%, cho thấy cú “đảo chiều” lợi nhuận chủ yếu đến từ cải thiện hiệu quả hoạt động bảo hiểm và tiết giảm chi phí.

Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp vẫn thua lỗ, dù kết quả đã có sự cải thiện. Sun Life thu hẹp đáng kể mức lỗ trước thuế từ 608,1 tỷ đồng xuống còn 93,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này vẫn cần đặt trong bối cảnh lỗ lũy kế 10.272 tỷ đồng sau hơn 10 năm hoạt động, dù vốn chủ sở hữu liên tục được bổ sung, lên 18.909 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Shinhan Life thu hẹp lỗ từ 100,6 tỷ đồng xuống 51,1 tỷ đồng, Phú Hưng Life từ 171 tỷ đồng xuống 159,2 tỷ đồng. Trái chiều, Chubb Life chuyển từ lãi 2,4 tỷ đồng sang lỗ 11 tỷ đồng, trong khi Fubon Life tăng lỗ từ 3 tỷ đồng lên 7,1 tỷ đồng.

Tình trạng thua lỗ kéo dài tại một số doanh nghiệp cũng đặt ra vấn đề về nghĩa vụ thuế, trong bối cảnh cơ quan quản lý nhà nước đang tăng cường rà soát, kiểm tra đối với các doanh nghiệp liên tục kê khai lỗ nhiều năm, không phát sinh thuế phải nộp nhưng vẫn đầu tư mở rộng, tăng vốn; các trường hợp có rủi ro cao về thuế sẽ được đưa vào kế hoạch kiểm tra theo chuyên đề.

Tìm điểm cân bằng, những “điểm sáng” tăng trưởng dần xuất hiện

Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động kinh doanh cốt lõi của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chưa hết sức ép, khi doanh thu phí bảo hiểm gốc của 17 doanh nghiệp đã công bố hoặc có số liệu sơ bộ đạt trên 55 nghìn tỷ đồng, giảm 6,4%.

Lợi nhuận
Lợi nhuận trước thuế của 17/20 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã công bố kết quả kinh doanh khởi sắc rõ rệt, nhưng phân hóa sâu. Ảnh minh họa.

Ở nhóm dẫn đầu về quy mô doanh thu phí, Bảo Việt Nhân thọ đạt 16.118,9 tỷ đồng, tiếp tục giữ vị trí cao nhất thị trường. AIA, theo số liệu sơ bộ, đứng tiếp theo với 9.215 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm.

Hai doanh nghiệp bám đuổi khá sát là Prudential với 8.441,9 tỷ đồng và Daiichi Life với 8.239,7 tỷ đồng, nhưng tạo khoảng cách lớn với nhóm phía sau, khi doanh nghiệp kế tiếp chỉ đạt quanh 2.500 tỷ đồng.

Ở cuối bảng, quy mô doanh thu phí của một số doanh nghiệp còn khá nhỏ, dưới 100 tỷ đồng, gồm MAP Life, Fubon Life và Bảo hiểm FWD Việt Nam - doanh nghiệp “chung tên nhưng khác chủ” với Bảo hiểm nhân thọ FWD Việt Nam.

Trong khi phần lớn doanh nghiệp vẫn tăng trưởng âm, một số doanh nghiệp đã duy trì được đà tăng doanh thu phí bảo hiểm gốc, như Cathay Life tăng 2,5%; Shinhan Life tăng 2,1%; BIDV MetLife tăng 0,7% và Generali tăng 0,2%, cho thấy những “điểm sáng” phục hồi đã bắt đầu xuất hiện.

Top 5 doanh nghiệp dẫn đầu về doanh thu phí bảo hiểm gốc đều ghi nhận đà suy giảm, ngoại trừ Generali nhích nhẹ 0,2%.

Trong đó, Prudential giảm mạnh nhất 13,7%, tương đương 1.340,2 tỷ đồng; Daiichi Life giảm 8,3%; Bảo Việt Nhân thọ giảm 3,3%; AIA theo số liệu sơ bộ cũng giảm 1,6%, tương đương 149 tỷ đồng

Diễn biến này tương đồng với xu hướng chung của toàn thị trường, khi số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường đạt 68,8 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5% so với cùng kỳ.

Dù vậy, đà suy giảm đang cho thấy tín hiệu tạo đáy và phục hồi, với nhiều kỳ vọng đưa thị trường từng bước tiến gần hơn tới vùng tăng trưởng dương trong những tháng cuối năm.

Đáng chú ý, lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm nhóm khảo sát giảm khoảng 19%, nhanh hơn đáng kể mức giảm 6,4% của phí bảo hiểm gốc, cho thấy áp lực không chỉ nằm ở quy mô doanh thu, mà còn ở hiệu quả kinh doanh bảo hiểm.

Đơn cử, 4 doanh nghiệp có lợi nhuận gộp từ hoạt động bảo hiểm âm, gồm Prudential âm 824,4 tỷ đồng; Chubb Life âm 117,1 tỷ đồng; MVI âm 87,6 tỷ đồng và FWD Việt Nam âm 2,7 tỷ đồng.

Áp lực lên hoạt động kinh doanh cốt lõi còn thể hiện khi lợi nhuận gộp bảo hiểm suy giảm mạnh hơn doanh thu phí. Điển hình là MVI lỗ gộp 87,6 tỷ đồng, gấp gần 29 lần mức lỗ cùng kỳ (3,1 tỷ đồng); Chubb Life đảo chiều từ lãi gộp 162,4 tỷ đồng sang lỗ.

Bên cạnh đó, Sun Life giảm 37,6% lợi nhuận gộp bảo hiểm, trong khi doanh thu phí bảo hiểm gốc chỉ giảm 11%; Bảo hiểm Nhân thọ FWD giảm lần lượt 18,6% lợi nhuận gộp và 6% doanh thu phí; Daiichi Life cũng giảm 17% lợi nhuận gộp bảo hiểm, cao hơn mức giảm 8,3% của doanh thu phí bảo hiểm gốc./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 26/10, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.627 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do cùng tăng. Chỉ số DXY giảm 0,19%, xuống 101,62 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực trước thềm các cuộc họp chính sách tiền tệ trong tuần này, khi ba ngân hàng trung ương lớn đều được dự báo giữ nguyên lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục duy trì dưới mốc 4.000 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng tiếp tục giảm 300.000 đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
Trang sức 99.9 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
Trang sức 99.99 13,380 ▼30K 13,980 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 26/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17625 17898 18471
CAD 17900 18175 18791
CHF 30689 31065 31705
CNY 0 3832 3928
EUR 28342 28559 29633
GBP 33746 34135 35060
HKD 0 3163 3365
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14409 14996
SGD 19661 19942 20517
THB 680 743 796
USD (1,2) 25579 0 0
USD (5,10,20) 25617 0 0
USD (50,100) 25644 25658 26023
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,670 25,670 26,050
USD(1-2-5) 24,644 - -
USD(10-20) 24,644 - -
EUR 28,429 28,452 29,805
JPY 160.14 160.43 170.18
GBP 33,946 34,038 35,231
AUD 17,830 17,894 18,574
CAD 18,108 18,166 18,836
CHF 30,983 31,079 32,009
SGD 19,801 19,863 20,643
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 18.02 18.79 20.45
THB 729.19 738.2 790.46
NZD 14,410 14,544 14,979
SEK - 2,559 2,651
DKK - 3,814 3,949
NOK - 2,726 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,915.32 - 6,675.62
TWD 716.56 - 868.19
SAR - 6,771.24 7,133.91
KWD - 81,683 86,925
AED - 6,786 7,312
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,399 28,542 29,771
GBP 33,935 34,106 35,141
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,814 30,969 31,915
JPY 159.70 161.31 169.29
AUD 17,781 17,906 18,504
SGD 19,769 19,949 20,547
THB 734 749 786
CAD 18,069 18,196 18,794
NZD 14,483 15,041
KRW 18.86 20.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25670 26040
AUD 17810 17910 18835
CAD 18110 18210 19223
CHF 30983 31013 32602
CNY 3815.5 3840.5 3975.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28563 28593 30318
GBP 34094 34144 35901
HKD 0 3300 0
JPY 161.42 161.92 172.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14535 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19846 19976 20699
THB 0 709.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,540 25,660 25,970
USD20 25,510 25,660 25,970
USD1 25,490 25,660 25,970
AUD 17,748 17,898 19,078
EUR 28,326 28,426 30,101
CAD 18,042 18,142 19,460
SGD 19,900 20,050 20,627
JPY 161.61 163.11 168.78
GBP 33,961 34,111 35,192
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,793 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30