Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh
PV: Có ý kiến cho rằng, các chính sách hỗ trợ thuế, phí hiện tại đã tiếp cận đúng và trúng nhóm doanh nghiệp cần nhất, như doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Ông nhìn nhận thế nào về ý kiến này?
![]() |
| TS. Mạc Quốc Anh |
TS. Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng nhận định này đúng về định hướng, nhưng trên thực tế vẫn còn dư địa để chính sách “trúng” hơn nữa.
Tín hiệu rất tích cực là chính sách những năm gần đây đã chuyển từ hỗ trợ tương đối dàn trải sang phân nhóm đối tượng rõ hơn. Ví dụ, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành áp dụng mức thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng và 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng, thấp hơn mức thuế suất phổ thông 20%.
Nghị quyết 43/2026/QH16 tiếp tục giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm 2026 và 2027 cho doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng. Như vậy, về mặt thiết kế, chính sách đang ưu tiên nhiều hơn cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và những chủ thể cần tích lũy vốn trong giai đoạn đầu.
Đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, cũng đã xuất hiện những chính sách được thiết kế cụ thể hơn. Chẳng hạn, Thông tư 29/2026/TT-BTC quy định mức phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai đối với DNNVV và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo bằng 50% mức thông thường.
Tuy nhiên, từ thực tiễn cộng đồng doanh nghiệp, tôi thấy còn ba vấn đề. Một là, doanh nghiệp càng nhỏ thì năng lực tiếp cận chính sách thường càng yếu. Nhiều doanh nghiệp không có bộ phận pháp chế, tài chính hoặc thuế chuyên nghiệp nên có chính sách nhưng không biết mình thuộc đối tượng nào, phải thực hiện thủ tục gì hoặc thời hạn ra sao.
Hai là, ưu đãi thuế thu nhập có một hạn chế mang tính bản chất: doanh nghiệp phải có lợi nhuận và phát sinh thuế thì mới hưởng lợi nhiều. Trong khi đó, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thường trải qua vài năm đầu đầu tư mạnh cho công nghệ, nhân lực, nghiên cứu phát triển và chưa có lợi nhuận. Nếu chỉ ưu đãi thuế thu nhập thì đôi khi doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất lại chưa hưởng được bao nhiêu.
Ba là, chính sách cần hướng mạnh hơn tới chất lượng tăng trưởng. Tôi cho rằng doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm năng lượng, đào tạo nguồn nhân lực, sở hữu trí tuệ hoặc tham gia chuỗi cung ứng nên được hưởng cơ chế khuyến khích mạnh hơn.
Vì vậy, giai đoạn tới chúng ta cần chuyển từ tư duy “doanh nghiệp thuộc quy mô nào” sang kết hợp thêm “doanh nghiệp đang đầu tư vào lĩnh vực gì và tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế”.
![]() |
| Công nhân sản xuất các sản phẩm vật liệu đồng tấm cuộn và gia công cơ khí tại Công ty TNHH Dulico - Xuân Phương - Hà Nội. Ảnh: Đức Thanh |
PV: Theo ông, bên cạnh việc giảm các loại thuế, phí, để doanh nghiệp tăng trưởng dài hạn hơn thì cần có thêm những giải pháp nào?
TS. Mạc Quốc Anh: Theo tôi, giảm thuế, phí rất cần thiết trong giai đoạn doanh nghiệp khó khăn, nhưng không thể là động lực duy nhất để doanh nghiệp tăng trưởng dài hạn. Nếu coi nền kinh tế như một cơ thể thì giảm thuế, phí giống như giảm áp lực tức thời; còn muốn cơ thể khỏe lên thì phải nâng cao năng lực nội sinh.
Giai đoạn tới, tôi đề nghị chuyển mạnh sang hỗ trợ theo năng lực và theo kết quả đầu tư, tập trung vào một số trụ cột. Trước tiên là vốn, khó khăn lớn của DNNVV không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng. Nhiều doanh nghiệp có thị trường, có đơn hàng, có ý tưởng tốt nhưng thiếu tài sản bảo đảm. Vì vậy cần nâng cao hiệu quả các quỹ bảo lãnh tín dụng, phát triển các mô hình chấm điểm tín nhiệm dựa trên dữ liệu, dòng tiền, hóa đơn điện tử và lịch sử giao dịch thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và đủ sức cạnh tranhTheo TS. Mạc Quốc Anh, một chính sách có giá trị rất lớn nhưng đôi khi không cần ngân sách nhiều, đó là cải cách thể chế và giảm chi phí tuân thủ. Với doanh nghiệp, thời gian cũng là tiền. Một thủ tục giảm từ 30 ngày xuống 10 ngày có khi giá trị hơn một khoản hỗ trợ tài chính nhỏ. Mục tiêu cuối cùng phải là chuyển từ “hỗ trợ doanh nghiệp tồn tại” sang “hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, lớn lên và đủ sức cạnh tranh”. |
Đồng thời, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhà nước có thể áp dụng các voucher công nghệ, voucher tư vấn, đồng tài trợ cho dự án chuyển đổi số, hỗ trợ chi phí thử nghiệm sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Với chi phí R&D (chi phí nghiên cứu và phát triển), chuyển đổi xanh và đào tạo nhân lực, có thể nghiên cứu cơ chế khấu trừ hoặc ưu đãi thuế ở mức đủ mạnh để doanh nghiệp thực sự có động lực đầu tư.
Tiếp đến là thị trường, đây mới là điều doanh nghiệp cần nhất. Có vốn mà không bán được hàng thì doanh nghiệp vẫn không thể phát triển. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp tham gia mua sắm công, chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn, thương mại điện tử, xuất khẩu, logistics và kết nối với hệ thống phân phối quốc tế.
Nghị quyết 198/2025/QH15 đã có bước tiến đáng chú ý khi dành một số gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa sử dụng ngân sách nhà nước có giá trị không quá 20 tỷ đồng cho DNNVV.
Về nguồn nhân lực, trong nền kinh tế số, năng lực của doanh nghiệp cuối cùng vẫn là năng lực của con người. Tôi đề nghị có chương trình đào tạo quy mô lớn dành cho chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản trị về AI, dữ liệu, tài chính, quản trị rủi ro, ESG, thương mại điện tử và xuất khẩu.
PV: Để tối ưu hóa chi phí, doanh nghiệp cần chủ động ra sao để tận dụng tối đa các chính sách ưu đãi thuế, phí hiện hành?
TS. Mạc Quốc Anh: Tôi muốn nhấn mạnh rằng chính sách chỉ tạo ra cơ hội; doanh nghiệp có biến cơ hội thành nguồn lực hay không lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản trị của chính doanh nghiệp.
Trước hết, doanh nghiệp cần xây dựng “bản đồ chính sách” cho chính mình. Cần rà soát xem doanh nghiệp thuộc nhóm quy mô nào, ngành nghề nào, được áp dụng mức thuế suất nào, khoản nào được miễn, giảm, gia hạn, thời điểm nào hết hiệu lực và hồ sơ cần chuẩn bị ra sao.
Thứ hai, doanh nghiệp phải chuẩn hóa kế toán, hóa đơn, chứng từ và dữ liệu. Trong môi trường quản lý thuế ngày càng số hóa, doanh nghiệp có hệ thống kế toán minh bạch sẽ không chỉ giảm rủi ro thuế mà còn thuận lợi hơn khi tiếp cận tín dụng, nhà đầu tư, đấu thầu và chuỗi cung ứng.
Thứ ba, doanh nghiệp phải chủ động quản trị thuế trong khuôn khổ pháp luật. Quản trị thuế tốt hoàn toàn khác với tìm cách né thuế. Doanh nghiệp cần sử dụng đúng các khoản chi phí được trừ, khấu hao, ưu đãi đầu tư, chi phí đào tạo, R&D, sở hữu trí tuệ và các chính sách dành cho DNNVV. Đồng thời, tuyệt đối tránh việc chia tách doanh nghiệp một cách hình thức để tìm cách đạt ngưỡng ưu đãi.
Thứ tư, tôi cho rằng các doanh nghiệp nhỏ nên có tư duy “chi phí tuân thủ cũng là một khoản đầu tư”. Sử dụng kế toán, tư vấn thuế, tư vấn pháp lý chuyên nghiệp ở mức phù hợp đôi khi giúp doanh nghiệp tiết kiệm lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra và phòng tránh được những rủi ro về truy thu, tiền chậm nộp hay xử phạt.
Về phía HANOISME, chúng tôi cho rằng các hiệp hội doanh nghiệp cũng phải đóng vai trò cầu nối. Không chỉ truyền tải chính sách mà cần biến văn bản pháp luật thành những hướng dẫn dễ hiểu, tổ chức tư vấn, đối thoại với cơ quan thuế và tổng hợp những vướng mắc thực tế để kiến nghị sửa đổi.
Tôi cho rằng trong giai đoạn hiện nay cần một sự chủ động từ cả hai phía: Nhà nước chuyển từ “ban hành chính sách” sang “bảo đảm chính sách đi được đến doanh nghiệp”; còn doanh nghiệp chuyển từ “chờ hỗ trợ” sang “chủ động quản trị và hấp thụ chính sách”.
Khi hai quá trình đó gặp nhau, mỗi đồng thuế, phí được miễn, giảm hay gia hạn sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua một thời điểm khó khăn, mà có thể trở thành nguồn lực cho đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, tạo việc làm và nâng cao năng suất.
Theo tôi, đó mới chính là thước đo cao nhất của một chính sách hỗ trợ doanh nghiệp: không phải doanh nghiệp được hỗ trợ bao nhiêu, mà sau hỗ trợ doanh nghiệp khỏe hơn bao nhiêu, lớn lên như thế nào và đóng góp trở lại cho nền kinh tế ra sao.
PV: Xin cám ơn ông!





