Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Hồng Quyên
(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
aa
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng
Bà Nguyễn Vân Hiền

PV: Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045, trong đó định hướng xây dựng Luật Tài sản số, sẽ mở ra những cơ hội nào cho thị trường blockchain và tài sản số Việt Nam, thưa bà?

Bà Nguyễn Vân Hiền: Điểm quan trọng nhất của Đề án là tài sản số và blockchain đã được đặt trong tổng thể cải cách thị trường tài chính, thay vì được nhìn nhận như một thị trường công nghệ tách biệt. Trong đó, luật về tài sản số, tài sản mã hóa sẽ được nghiên cứu, xây dựng trong giai đoạn 2028 - 2029.

Hành lang pháp lý được hoàn thiện và ngày càng chặt chẽ sẽ mở ra cơ hội đầu tiên là hình thành nền tảng pháp lý rõ ràng, từ đó xác định từng loại tài sản và áp dụng cơ chế quản lý phù hợp.

Cơ hội thứ hai là mở rộng các sản phẩm và kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Đề án đặt ra lộ trình từ sandbox đến chứng khoán số hóa, token hóa tài sản thực, trái phiếu số hóa, quỹ đầu tư số hóa cùng các dịch vụ lưu ký và thanh toán trên nền tảng công nghệ sổ cái phân tán. Đồng thời, các quy định giữa chứng khoán, bất động sản, nhà ở, đất đai, dân sự và ngoại hối sẽ được rà soát để tạo điều kiện phát triển sản phẩm mới và thu hút dòng vốn ngoại.

Cơ hội thứ ba là hình thành hệ sinh thái dịch vụ tài chính số đa dạng. Khi sản phẩm số được pháp luật thừa nhận và phân loại, thị trường không chỉ cần sàn giao dịch, mà còn cần các tổ chức lưu ký, thanh toán, kiểm toán, định giá, phân tích dữ liệu, an ninh mạng và cung cấp hạ tầng công nghệ.

Một cơ hội khác là nâng cao niềm tin và khả năng thu hút dòng vốn tổ chức.

Các ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm và nhà đầu tư nước ngoài thường chỉ tham gia khi quyền tài sản, cơ chế lưu ký, quy trình xử lý rủi ro và trách nhiệm pháp lý đã được xác lập. Luật về tài sản số, nếu được thiết kế đồng bộ với các luật chuyên ngành, có thể tạo nền tảng để các tổ chức này tham gia thị trường với quy mô lớn hơn và tầm nhìn dài hạn hơn.

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng
Xây dựng Luật Tài sản số sẽ giúp khai thác tiềm năng phát triển kinh tế số trong lĩnh vực tài chính - công nghệ. Ảnh: Shutterstock

PV: Theo bà, Luật Tài sản số cần phân loại tài sản mã hóa dựa trên những tiêu chí nào để phản ánh đúng bản chất của từng loại tài sản, đồng thời hạn chế sự chồng chéo với pháp luật về chứng khoán, ngân hàng và dân sự?

Bà Nguyễn Vân Hiền: Tôi cho rằng, Luật Tài sản số cần cụ thể hóa 3 nhóm tài sản mã hóa đã được Chính phủ định hướng tại Quyết định 1413/QĐ-TTg, gồm: tài sản mã hóa phục vụ thanh toán; mã thông báo tiện ích (utility tokens); mã thông báo chứng khoán hoặc tài sản thực số hóa (security tokens/RWA). Việc phân loại cần dựa trên chức năng kinh tế, quyền của người nắm giữ và nghĩa vụ của tổ chức phát hành, thay vì chỉ dựa vào tên gọi của token.

Với tài sản mã hóa phục vụ thanh toán, tiêu chí chính là token có được sử dụng để chuyển giao giá trị, thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc duy trì giá trị ổn định hay không. Luật cần xem xét tài sản bảo chứng, quyền quy đổi, nghĩa vụ hoàn trả của tổ chức phát hành và phạm vi sử dụng. Những token có chức năng tương tự phương tiện thanh toán hoặc tiền điện tử phải được kết nối với pháp luật ngân hàng, thanh toán, ngoại hối và phòng, chống rửa tiền.

Với mã thông báo tiện ích, tiêu chí chính là quyền truy cập hoặc sử dụng một sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Nếu token đồng thời tạo quyền hưởng lợi nhuận, dòng tiền hoặc được phát hành chủ yếu nhằm huy động vốn thì cần được quản lý theo đúng bản chất. Đối với security token/RWA, cần xác định rõ quyền mà token đại diện và tài sản cơ sở; nếu mang bản chất của cổ phiếu, trái phiếu hoặc chứng chỉ quỹ thì pháp luật chứng khoán cần được ưu tiên áp dụng.

Để hạn chế chồng chéo, Luật nên quy định nguyên tắc phân loại theo bản chất chủ đạo và áp dụng pháp luật chuyên ngành tương ứng. Nhóm phục vụ thanh toán chịu sự điều chỉnh trọng tâm của pháp luật ngân hàng và thanh toán. Utility token gắn với pháp luật dân sự, thương mại, bảo vệ người tiêu dùng và dữ liệu. Security token/RWA chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán, dân sự và pháp luật chuyên ngành về tài sản cơ sở như đất đai, bất động sản hoặc hàng hóa. Với token có nhiều chức năng, cần áp dụng đồng thời các nghĩa vụ tương ứng hoặc xác định chức năng chủ đạo dựa trên thiết kế sản phẩm, cách phát hành và quyền lợi thực tế của người mua.

PV: Theo bà, để tài sản số trở thành một nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, Việt Nam cần ưu tiên những chính sách nào nhằm thúc đẩy mã hóa tài sản thực, huy động vốn và phát triển các mô hình kinh doanh mới?

Bà Nguyễn Vân Hiền: Để thúc đẩy mã hóa tài sản thực và biến RWA thành kênh huy động vốn cho nền kinh tế, tôi cho rằng, chính sách cần tập trung vào 4 nhóm ưu tiên:

Thứ nhất, chuẩn hóa cấu trúc pháp lý và tài sản. Cần quy định rõ loại tài sản đủ điều kiện mã hóa; quyền sở hữu, tình trạng pháp lý, tài sản bảo đảm và quyền mà token đại diện. Chỉ những tài sản có hồ sơ rõ ràng, có thể định giá và kiểm chứng mới nên được đưa lên nền tảng RWA.

Thứ hai, chuẩn hóa dữ liệu và chế độ báo cáo. Doanh nghiệp cần thống nhất dữ liệu về tài chính, dòng tiền, định giá và tài sản bảo đảm, đồng thời thiết lập cơ chế cập nhật thường xuyên để cơ quan quản lý và nhà đầu tư có thể kiểm chứng sự tương ứng giữa token với tài sản cơ sở.

Thứ ba, nâng cao năng lực tuân thủ và quản trị rủi ro. Chính sách cần yêu cầu tích hợp KYC, AML, lưu ký, phân quyền vận hành và giám sát giao dịch ngay từ thiết kế sản phẩm; đồng thời xác định rõ trách nhiệm giữa đơn vị sở hữu tài sản, tổ chức phát hành, lưu ký và nền tảng phân phối.

Thứ tư, xây dựng chiến lược sản phẩm và nhà đầu tư. Giai đoạn đầu nên ưu tiên những sản phẩm có cấu trúc tương đối rõ như trái phiếu, quỹ, khoản vay hoặc tài sản tạo dòng tiền; đồng thời lựa chọn đúng nhóm nhà đầu tư mục tiêu, trước hết là tổ chức, nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư quốc tế.

PV: Xin cảm ơn bà!

Hồng Quyên

Đọc thêm

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30