Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản Tỷ giá USD hôm nay (4/9): USD diễn biến phân hóa, DXY giảm mạnh khi Fed để ngỏ giữ nguyên lãi suất Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Lãi suất qua đêm bật lên 6%, bơm ròng gần 11.000 tỷ đồng sau nghỉ lễ

Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, thị trường mở hoạt động trở lại trong 2 phiên cuối tuần, với Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện các giao dịch nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước bơm ra tổng cộng 10.786,86 tỷ đồng, trong đó 5.161,3 tỷ đồng ngày 3/9 và 5.625,56 tỷ đồng ngày 4/9, với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 35 ngày, lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, không có lượng đáo hạn, đồng nghĩa toàn bộ 10.786,86 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường trong tuần. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 248.031,84 tỷ đồng.

Động thái này nối tiếp quy mô bơm ròng khoảng 55.000 tỷ đồng vào cuối tháng 8, cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong giai đoạn nhu cầu vốn tăng cao cuối tháng và tăng trưởng tín dụng duy trì sức ép lên thanh khoản.

Diễn biến trên thị trường liên ngân hàng cũng cho thấy thanh khoản biến động khá mạnh. Sau khi giảm sâu vào cuối tháng 8 còn quanh 1%/năm, lãi suất qua đêm bật tăng nhanh lên 6%/năm ngày 3/9, cao hơn 4,81 điểm phần trăm so với ngày 28/8.

Trái lại, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,99 điểm phần trăm xuống 6,34%/năm; kỳ hạn 2 tuần giảm 0,58 điểm phần trăm xuống 6,21%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm 0,29 điểm phần trăm xuống 6,5%/năm.

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 3 tháng tăng 0,18 điểm phần trăm lên 7,32%/năm. Như vậy, lãi suất kỳ hạn dài vẫn neo quanh 6 - 7%/năm.

Nhịp giảm sâu rồi bật mạnh của lãi suất qua đêm cho thấy thanh khoản ngắn hạn có thời điểm dư thừa sau giai đoạn cuối tháng, trước kỳ nghỉ lễ dài ngày, nhưng nhanh chóng chịu áp lực trở lại sau kỳ nghỉ.

Đáng chú ý, quy mô giao dịch liên ngân hàng ở các kỳ hạn ngắn đã lên mức rất cao. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước ngày 28/8, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 898,82 nghìn tỷ đồng, còn kỳ hạn 1 tuần vượt 1,114 triệu tỷ đồng. Riêng hai kỳ hạn này đạt hơn 2 triệu tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vay vốn “nóng” ngắn hạn giữa các ngân hàng ở mức lớn.

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng
Báo cáo của Bộ Tài chính tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 cho thấy, thanh khoản trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng được cải thiện, huy động vốn VND đến ngày 22/8 tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn tốc độ tăng dư nợ tín dụng. Giai đoạn cuối năm, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để điều hành linh hoạt tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, nâng hạn mức tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), thanh khoản rất ngắn hạn đang tiếp tục ổn định, trong khi nhu cầu cân đối và phòng thủ thanh khoản đang dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn.

Trong ngắn hạn, lãi suất qua đêm có thể tiếp tục dao động ở vùng tương đối thấp nếu Ngân hàng Nhà nước duy trì điều tiết linh hoạt.

“Tuy nhiên, sự phân hóa rõ giữa các kỳ hạn cho thấy áp lực cân đối vốn của hệ thống chưa hoàn toàn được giải tỏa, đặc biệt khi tín dụng tiếp tục mở rộng” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Đà tăng tín dụng cũng được phản ánh qua số liệu mới nhất từ Bộ Tài chính tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8, với dư nợ tín dụng tăng 8,38% so với đầu năm.

Tuy nhiên, thanh khoản trong ngắn hạn của hệ thống ngân hàng được cải thiện, huy động vốn VND đến ngày 22/8 tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn tốc độ tăng dư nợ tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường, hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý; điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, các lĩnh vực, dự án ưu tiên, động lực tăng trưởng; kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực rủi ro.

Tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần ròng rã leo dốc, DXY giằng co

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá tự do nối dài xu hướng đi xuống, cùng chiều với tỷ giá ngân hàng và tỷ giá trung tâm.

Theo đó, tỷ giá trung tâm kết tuần ở mức 25.605 đồng, giảm 5 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều sau 16 tuần ròng rã leo dốc, tích lũy mức tăng 495 đồng kể từ đầu tháng 5/2026.

Sau nhiều tuần diễn biến phân hóa, tuần này, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng hạ nhiệt nhẹ.

Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở mức 25.845 - 26.255 VND/USD, cùng giảm 5 đồng ở cả hai chiều; tại BIDV, tỷ giá ở mức 25.880 - 26.285 VND/USD, cùng giảm 10 đồng.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giảm mạnh 80 đồng, xuống 25.770 - 25.810 VND/USD.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng. Ảnh Đức Thanh.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt gồm EUR, JPY, GBP, CAD, SEK và CHF - hồi nhẹ 0,2%, giữ mốc 99 điểm. Theo OCBC (Singapore), chỉ số DXY trước đó hạ nhiệt cùng với lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ, sau khi Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Christopher Waller nghiêng về giữ nguyên lãi suất trong tháng 9 nếu xu hướng giảm lạm phát tiếp diễn.

Ông Waller cho rằng nên cho quá trình giảm lạm phát thêm thời gian, đồng thời kỳ vọng dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sắp tới sẽ ở mức hợp lý và chính sách hiện tại vẫn có khả năng đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%.

Thống đốc Fed cũng đánh giá phần lớn tác động từ thuế quan đã đi qua, trong khi giá năng lượng tăng chưa lan rộng đáng kể sang mặt bằng giá. Tuy nhiên, khả năng tăng lãi suất vẫn được để ngỏ nếu lạm phát tăng tốc trở lại.

Sau phát biểu này, thị trường giảm định giá khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 9 xuống gần 50%, từ mức 68% ngày 1/9.

Trong bối cảnh chưa có sự đồng thuận rõ ràng về hướng đi lãi suất, báo cáo bảng lương phi nông nghiệp, CPI và chỉ số giá sản xuất sắp công bố sẽ là những dữ liệu quan trọng chi phối kỳ vọng chính sách. Theo OCBC, DXY hiện dao động quanh 99 điểm và vẫn đối mặt rủi ro hai chiều trong xu hướng giảm rộng hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
Hà Nội - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
Miền Tây - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,100 ▲100K 148,500 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 ▲20K 14,860 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,560 ▲20K 14,860 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,560 ▲20K 14,860 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,560 ▲20K 14,910 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,560 ▲20K 14,910 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,560 ▲20K 14,910 ▲20K
NL 99.99 13,700 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600 ▲100K
Trang sức 99.9 14,220 ▲20K 14,820 ▲20K
Trang sức 99.99 14,230 ▲20K 14,830 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 ▲2K 14,862 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 ▲2K 14,863 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,451 ▲2K 1,481 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,451 ▲2K 1,482 ▲1334K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,426 ▲2K 1,471 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,644 ▲198K 145,644 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,686 ▲150K 110,486 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,388 ▲136K 100,188 ▲136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,009 ▼71959K 8,989 ▼80779K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,118 ▲117K 85,918 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,697 ▲84K 61,497 ▲84K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 ▲2K 1,486 ▲2K
Cập nhật: 04/09/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18226 18501 19078
CAD 18339 18615 19235
CHF 31549 31929 32585
CNY 0 3840 3936
EUR 29649 29870 30951
GBP 34447 34839 35790
HKD 0 3193 3395
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15004 15595
SGD 20023 20306 20876
THB 707 770 823
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,886 25,916 26,300
USD20 25,866 25,916 26,835
USD1 25,816 25,916 26,885
AUD 18,425 18,525 19,640
EUR 29,610 29,710 31,376
CAD 18,484 18,584 19,893
SGD 20,260 20,410 21,672
JPY 163.78 165.28 170.81
GBP 34,587 34,679 35,799
XAU 14,608,000 0 14,912,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/09/2026 19:00
Ngân hàng