Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng
Huy động hụt nhịp tín dụng, “vùng trũng” thanh khoản hiện rõ
Tín dụng và huy động ngày càng lệch nhịp, cả về tốc độ lẫn quy mô. Khi tín dụng liên tục chạy nhanh hơn huy động, khoảng cách giữa hai dòng vốn đã nới lên 2,8 triệu tỷ đồng.
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025; trong khi huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư - nguồn vốn cốt lõi của hệ thống - chỉ tăng 5,75%, thấp hơn 3,23 điểm phần trăm.
Đây không phải diễn biến mới xuất hiện. Bình quân giai đoạn 2021 - 2025, tín dụng tăng nhanh hơn huy động khoảng 3,8 điểm phần trăm; riêng năm 2022 khoảng cách lên tới 6,55 điểm phần trăm.
![]() |
| Đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Ảnh minh họa: Đức Thanh |
Dù lãi suất huy động đã tăng đáng kể từ cuối năm 2025, cao hơn khoảng 120 điểm cơ bản so với giữa năm 2025 và tăng thêm 75 - 120 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2026, khoảng cách tăng trưởng giữa tín dụng và huy động vẫn ở mức cao, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) lên cao và thu hẹp “vùng đệm” thanh khoản.
Bài toán cân đối vốn vì thế trở nên căng thẳng hơn, buộc các ngân hàng tiếp tục cạnh tranh huy động, kéo theo áp lực lên mặt bằng lãi suất; đồng thời, tìm kiếm các kênh vốn bổ sung để đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao trong mùa cao điểm cuối năm. Tuy nhiên, việc gia tăng sử dụng các nguồn vốn có tính ổn định thấp hơn để bù đắp thiếu hụt có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản.
Báo cáo mới đây của Công ty cổ phần FiinRatings cho thấy, một dấu hiệu thường xuất hiện ở các trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán là sự bất cân xứng trong tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu hoạt động cốt lõi.
“Những sự chênh lệch, hay khoảng cách này phản ánh sự mở rộng thiếu đồng bộ giữa quy mô tài sản, hoạt động cấp tín dụng cốt lõi và hoạt động huy động vốn, qua đó, làm gia tăng rủi ro thanh khoản và suy giảm khả năng chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc” - FiinRatings lưu ý.
Phía sau trạng thái thanh khoản tổng thể, “vùng trũng” vẫn xuất hiện tại một số dải kỳ hạn ở nhiều ngân hàng, áp lực còn đến từ sự lệch pha về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và vốn cho vay.
Đơn cử, tại một ngân hàng tư nhân top đầu hệ thống có dư nợ cho vay tăng mạnh, vượt 1 triệu tỷ đồng đầu năm 2026, thanh khoản tổng thể dương 213.000 tỷ đồng, nhưng ba kỳ hạn dưới 1 năm âm khoảng 174.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, dư nợ cho vay từ 1 năm trở lên chiếm 45,5% tổng dư nợ; song tiền gửi cùng kỳ hạn chỉ chiếm 2,2%, cho thấy sức ép lệch kỳ hạn lớn.
Ngân hàng tìm lực đỡ
Không chỉ lãi suất tiền gửi đi lên, chi phí vốn của các ngân hàng chịu sức ép từ nhiều phía. Lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu cùng nhích lên, CASA (tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn) suy giảm.
Theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), CASA toàn hệ thống ở mức thấp 20,9%, dưới cả vùng đáy năm 2022. Trong khi đó, các chương trình sinh lời tự động cũng khiến nguồn vốn từng “giá rẻ” không còn rẻ như trước.
Trước áp lực thanh khoản, các ngân hàng phải mở rộng huy động ngoài kênh tiền gửi dân cư, trong đó, nhiều kênh vốn có chi phí cao.
Đánh giá về áp lực đầu vào, Phó Tổng Giám đốc VPBank Vũ Minh Trường cho rằng, chi phí vốn đang ở giai đoạn đỉnh và có thể giảm nhẹ thời gian tới.
Các khoản vay quốc tế và hoán đổi sang VND khá thuận lợi, khi chi phí hoán đổi kỳ hạn ngắn giảm mạnh, cá biệt dưới một tuần còn về âm. VPBank tiếp tục phát hành giấy tờ có giá trên thị trường 2 theo kế hoạch. Các khoản vay này mang tính chiến lược, được tính vào nguồn vốn trung dài hạn và các chỉ số an toàn.
Cân bằng nguồn vốn theo nhịp tăng tín dụngTheo ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc MB, cần phải duy trì sự cân bằng giữa thị trường 1, thị trường 2 và quốc tế để đảm bảo giá thành tăng chậm nhất. Nhu cầu tín dụng tăng đến đâu thì cân bằng đến đó, để đảm bảo thanh khoản. |
“Sau một thời gian cạnh tranh lãi suất để các chỉ số tốt hơn, các ngân hàng bắt đầu chậm lại trong cạnh tranh” - ông Trường đánh giá.
Cũng theo ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB, nửa đầu năm, trước khó khăn thanh khoản trong nước đẩy lãi suất lên, MB đã chủ động tăng vay vốn và phát hành trái phiếu quốc tế và sẽ tiếp tục trong cuối năm. Trước đây, khi lãi suất VND chỉ 4 - 5% trong khi USD 6 - 7%, huy động USD không hấp dẫn; nhưng lãi suất trong nước tăng và tỷ giá ổn định trở lại, huy động USD thuận lợi hơn.
Không chỉ chi phí vốn dâng cao, nợ xấu tăng còn khiến một phần vốn bị “kẹt” trong các khoản vay khó thu hồi, qua đó, tiếp tục thu hẹp dư địa thanh khoản của ngân hàng.
“Van” thanh khoản mở rộng
Thay vì “bơm” thanh khoản trực tiếp vào hệ thống, cơ quan điều hành “nới” không gian sử dụng nguồn vốn hiện hữu, qua đó, hạn chế tác động trực tiếp đến cung tiền, tỷ giá và lạm phát, đồng thời giảm áp lực cân đối kỳ hạn cho các ngân hàng thương mại.
Điển hình là, Thông tư 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%; Quyết định số 1743/QĐ-NHNN tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ LDR tối đa 50% đến hết ngày 31/7/2028.
Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank cho rằng, đây là một bước chuyển rất phù hợp bởi sẽ giúp cho các ngân hàng có nguồn thanh khoản và linh động hơn trong việc kiểm soát nguồn vốn.
Chính sách phân tầng, bổ sung thanh khoản có chọn lọcChính sách điều hành thời gian tới nên theo hướng “phân tầng”, hơn là biện pháp đồng loạt. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước có thể dùng công cụ kỹ thuật (room LDR, tín dụng định hướng, tái cấp vốn có điều kiện) để bổ sung thanh khoản có chọn lọc cho tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, các lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, giữ lãi suất điều hành và lãi suất huy động kỳ hạn dài ở mức đủ hấp dẫn để bảo vệ tỷ giá. PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân |
Cuối tháng 6/2026, Techcombank duy trì tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn ở mức 27,8%. Giai đoạn tới, khi tài trợ nhiều hơn cho các dự án hạ tầng, bà Thủy nhấn mạnh, việc nới lỏng này sẽ giúp Techcombank rất nhiều trong việc linh động quản lý nguồn vốn.
PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Trưởng bộ môn Ngân hàng số, Khoa Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) cũng đánh giá, việc mở thêm “room” huy động kỹ thuật giúp ngân hàng hạ tỷ lệ LDR nội bộ, có thêm dư địa cho vay mà không cần chạy đua lãi suất huy động, qua đó, gián tiếp hạ nhiệt áp lực tăng lãi suất lan ra toàn thị trường.
Dù vậy, theo bà Ngân, đây không phải là “van” điều chỉnh thanh khoản vô hạn, cũng không thể dùng để tài trợ tín dụng trung dài hạn một cách bền vững.
Những tháng cuối năm, giới chuyên gia, ngân hàng kỳ vọng, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định sẽ tạo thêm dư địa để Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản và mục tiêu tăng trưởng. Cùng với đó, giải ngân đầu tư công tăng tốc sẽ đưa nguồn vốn ngân sách trở lại nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, qua đó cải thiện thanh khoản, mở thêm dư địa cho tín dụng.


