Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau
“Bơm” thêm triệu tỷ đồng, dòng vốn dịch chuyển cho vay trung dài hạn
Dữ liệu của phóng viên cho thấy, tính đến cuối quý II/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết đạt gần 15,42 triệu tỷ đồng, tăng 8,9% so với cuối năm 2025, tương đương khoảng 1,26 triệu tỷ đồng vốn tín dụng “bơm” thêm vào nền kinh tế sau nửa đầu năm.
Trong đó, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt hơn 8 triệu tỷ đồng, tăng 6,8%. Tuy nhiên, tốc độ tăng của phân khúc này thấp hơn mức tăng chung, khiến tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm xuống 52%.
Ở chiều ngược lại, dòng vốn cho vay dịch chuyển rõ hơn sang các kỳ hạn dài. Dư nợ cho vay trung hạn tăng 11%, lên hơn 2,19 triệu tỷ đồng, đưa tỷ trọng lên 14,2%. Còn cho vay dài hạn tăng mạnh nhất, 11,2%, lên hơn 5,1 triệu tỷ đồng, tương đương tăng trên 500.000 tỷ đồng, qua đó, nâng tỷ trọng từ 32,4% lên 33,1%.
![]() |
| Nguồn: Yuanta Việt Nam, FiinPro-X. Đồ họa tư liệu |
Như vậy, cho vay trung và dài hạn đã chiếm 47,3% tổng dư nợ, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Sự dịch chuyển này cho thấy các ngân hàng đang tăng phân bổ tín dụng vào các khoản vay có kỳ hạn dài hơn.
Xét về quy mô cho vay, đến cuối quý II/2026, 5 ngân hàng niêm yết có dư nợ cho vay khách hàng vượt 1 triệu tỷ đồng, gồm BIDV, VietinBank, Vietcombank, MB và VPBank.
Trong đó, BIDV tiếp tục dẫn đầu nhóm khảo sát với hơn 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 5,4% so với cuối năm 2025. Theo sau là các ngân hàng nhóm “big 4” là VietinBank và Vietcombank.
Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức tăng dư nợ quanh 5%, MB và VPBank ghi nhận tốc độ mở rộng tín dụng vượt trội, trong bối cảnh được hưởng thêm dư địa tăng trưởng tín dụng nhờ tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém. Dư nợ MB tăng 13,2%, lên gần 1,23 triệu tỷ đồng; còn VPBank tăng tới 23%, đưa dư nợ lần đầu vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt hơn 1,16 triệu tỷ đồng.
Xét theo cơ cấu kỳ hạn, cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn quanh 60 - 70% tổng dư nợ tại nhiều ngân hàng. Cuối quý II/2026, NCB dẫn đầu nhóm khảo sát với 72,5%; sát sau là OCB 72,1%.
Dù tỷ trọng cho vay trung dài hạn tại VPBank gần như đi ngang 60%, dư nợ cho vay dài hạn tăng tới 40,5%, lên gần 334.700 tỷ đồng, cho thấy quy mô vốn kỳ hạn dài được mở rộng mạnh. Trong khi đó, VIB và Techcombank có tỷ trọng cho vay trung, dài hạn lần lượt 59,5% và 59,4%.
NIM thêm lực đỡ
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất neo cao và room tín dụng phân bổ có giới hạn, việc đẩy mạnh cho vay trung, dài hạn có thể giúp các ngân hàng cải thiện lợi suất tài sản sinh lời, qua đó, hỗ trợ biên lãi ròng (NIM).
Bởi so với các khoản vay ngắn hạn thường có thời gian tái định giá nhanh và chịu cạnh tranh lãi suất cho vay lớn, cho vay kỳ hạn dài thường mang lại lợi suất cao hơn và duy trì mức sinh lời trong thời gian dài hơn.
Theo ghi nhận của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), tỷ trọng dư nợ dài hạn đã tăng lên 33,1% tổng danh mục cho vay trong quý II/2026, từ mức 30,4% cùng kỳ năm trước, trong bối cảnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%.
NIM tính theo năm của 27 ngân hàng niêm yết cải thiện 16 điểm cơ bản so với quý trước, lên 3,15% trong quý II/2026, nhờ tái định giá các khoản cho vay.
“NIM được hỗ trợ không phải nhờ giảm chi phí vốn, mà thông qua tái định giá các khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn cho vay” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.
Nới các tỷ lệ, tạo thêm không gian cho dòng vốn lan tỏaTheo bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích VDSC, những điều chỉnh, nới các tỷ lệ mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn, tạo không gian cho các ngân hàng, nền kinh tế có thêm thời gian chờ những nguồn vốn ra thị trường được giải ngân, có tính lan tỏa, mang lại hiệu quả và tăng vòng quay tiền trong nền kinh tế. |
Hệ thống ngân hàng có thêm dư địa gia tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn sau khi Thông tư số 25/2026/TT-NHNN được ban hành, nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng từ đầu quý III/2026.
Việc loại trừ đích danh 18 dự án hạ tầng trọng điểm của 3 tập đoàn tư nhân với nhu cầu vốn hơn 750.000 tỷ đồng khỏi room tăng trưởng tín dụng là động thái chưa từng có tiền lệ, cũng phần nào lý giải sự cần thiết của việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40%.
Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, việc nới giới hạn này giúp giải tỏa áp lực lên bảng cân đối, tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, cho phép các ngân hàng kéo dài kỳ hạn cho vay và qua đó hỗ trợ NIM.
Chia sẻ gần đây, bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, thời gian qua, các ngân hàng buộc phải tăng huy động từ nền kinh tế nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vốn của các dự án vay dài hạn. Vì vậy, kỳ vọng việc nới các chỉ tiêu sẽ mở rộng dư địa cho vay, đặc biệt đối với các dự án trung và dài hạn.
Cùng chung quan điểm, bà Vũ Diệu Hà - chuyên viên phân tích Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho rằng, việc nới trần tỷ lệ cho phép các ngân hàng gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với chi phí cao hơn đáng kể và cải thiện NIM.
Cùng với đó, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực.
Nới tỷ lệ lên 40% chỉ là “cú hích” ngắn hạnNhìn lại dữ liệu lịch sử, thống kê từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, tỷ trọng cho vay dài hạn từng duy trì ở mức 34 - 35% trong giai đoạn 2019 - 2022 và đạt đỉnh 35% vào quý II/2020. Do đó, mức 33,1% trong quý II/2026 thực chất là sự trở lại vùng trước năm 2023. Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, tốc độ gia tăng cho vay dài hạn hiện khó duy trì lâu dài, bởi một trong những động lực chính đến từ việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40%. “Chúng tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng, đồng nghĩa với việc tỷ lệ này có thể sẽ được điều chỉnh giảm trở lại mức 30% khi điều kiện thị trường cho phép” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn. Vì vậy, chính sách hiện tại chủ yếu tạo cú hích ngắn hạn, biện pháp hỗ trợ tạm thời cho tăng trưởng tín dụng và NIM, thay vì động lực tăng trưởng có thể duy trì bền vững. Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng lưu ý rằng, xu hướng đẩy mạnh cho vay trung dài hạn cũng làm gia tăng áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn. Bởi nhiều thống kê cho thấy khoảng 80% tiền gửi huy động có kỳ hạn dưới 1 năm, trong khi tỷ trọng các khoản cho vay trung, dài hạn ngày càng lớn. Tại một ngân hàng trong hệ thống có dư nợ vượt 1 triệu tỷ đồng, sự chênh lệch kỳ hạn khá rõ nét khi các khoản cho vay từ 1 năm trở lên chiếm 45,5% tổng dư nợ, trong khi tiền gửi cùng kỳ hạn chỉ chiếm 2,2%. Khoảng cách lớn giữa kỳ hạn huy động và cho vay cho thấy sức ép lệch kỳ hạn đáng kể, đòi hỏi các ngân hàng phải thận trọng hơn trong quản trị thanh khoản, cân đối nguồn vốn và kiểm soát rủi ro kỳ hạn. |



