Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
aa

“Bơm” thêm triệu tỷ đồng, dòng vốn dịch chuyển cho vay trung dài hạn

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, tính đến cuối quý II/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết đạt gần 15,42 triệu tỷ đồng, tăng 8,9% so với cuối năm 2025, tương đương khoảng 1,26 triệu tỷ đồng vốn tín dụng “bơm” thêm vào nền kinh tế sau nửa đầu năm.

Trong đó, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt hơn 8 triệu tỷ đồng, tăng 6,8%. Tuy nhiên, tốc độ tăng của phân khúc này thấp hơn mức tăng chung, khiến tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm xuống 52%.

Ở chiều ngược lại, dòng vốn cho vay dịch chuyển rõ hơn sang các kỳ hạn dài. Dư nợ cho vay trung hạn tăng 11%, lên hơn 2,19 triệu tỷ đồng, đưa tỷ trọng lên 14,2%. Còn cho vay dài hạn tăng mạnh nhất, 11,2%, lên hơn 5,1 triệu tỷ đồng, tương đương tăng trên 500.000 tỷ đồng, qua đó, nâng tỷ trọng từ 32,4% lên 33,1%.

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau
Nguồn: Yuanta Việt Nam, FiinPro-X. Đồ họa tư liệu

Như vậy, cho vay trung và dài hạn đã chiếm 47,3% tổng dư nợ, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Sự dịch chuyển này cho thấy các ngân hàng đang tăng phân bổ tín dụng vào các khoản vay có kỳ hạn dài hơn.

Xét về quy mô cho vay, đến cuối quý II/2026, 5 ngân hàng niêm yết có dư nợ cho vay khách hàng vượt 1 triệu tỷ đồng, gồm BIDV, VietinBank, Vietcombank, MB và VPBank.

Trong đó, BIDV tiếp tục dẫn đầu nhóm khảo sát với hơn 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 5,4% so với cuối năm 2025. Theo sau là các ngân hàng nhóm “big 4” là VietinBank và Vietcombank.

Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức tăng dư nợ quanh 5%, MB và VPBank ghi nhận tốc độ mở rộng tín dụng vượt trội, trong bối cảnh được hưởng thêm dư địa tăng trưởng tín dụng nhờ tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém. Dư nợ MB tăng 13,2%, lên gần 1,23 triệu tỷ đồng; còn VPBank tăng tới 23%, đưa dư nợ lần đầu vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt hơn 1,16 triệu tỷ đồng.

Xét theo cơ cấu kỳ hạn, cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn quanh 60 - 70% tổng dư nợ tại nhiều ngân hàng. Cuối quý II/2026, NCB dẫn đầu nhóm khảo sát với 72,5%; sát sau là OCB 72,1%.

Dù tỷ trọng cho vay trung dài hạn tại VPBank gần như đi ngang 60%, dư nợ cho vay dài hạn tăng tới 40,5%, lên gần 334.700 tỷ đồng, cho thấy quy mô vốn kỳ hạn dài được mở rộng mạnh. Trong khi đó, VIB và Techcombank có tỷ trọng cho vay trung, dài hạn lần lượt 59,5% và 59,4%.

NIM thêm lực đỡ

Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất neo cao và room tín dụng phân bổ có giới hạn, việc đẩy mạnh cho vay trung, dài hạn có thể giúp các ngân hàng cải thiện lợi suất tài sản sinh lời, qua đó, hỗ trợ biên lãi ròng (NIM).

Bởi so với các khoản vay ngắn hạn thường có thời gian tái định giá nhanh và chịu cạnh tranh lãi suất cho vay lớn, cho vay kỳ hạn dài thường mang lại lợi suất cao hơn và duy trì mức sinh lời trong thời gian dài hơn.

Theo ghi nhận của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), tỷ trọng dư nợ dài hạn đã tăng lên 33,1% tổng danh mục cho vay trong quý II/2026, từ mức 30,4% cùng kỳ năm trước, trong bối cảnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%.

NIM tính theo năm của 27 ngân hàng niêm yết cải thiện 16 điểm cơ bản so với quý trước, lên 3,15% trong quý II/2026, nhờ tái định giá các khoản cho vay.

“NIM được hỗ trợ không phải nhờ giảm chi phí vốn, mà thông qua tái định giá các khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn cho vay” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Nới các tỷ lệ, tạo thêm không gian cho dòng vốn lan tỏa

Theo bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích VDSC, những điều chỉnh, nới các tỷ lệ mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn, tạo không gian cho các ngân hàng, nền kinh tế có thêm thời gian chờ những nguồn vốn ra thị trường được giải ngân, có tính lan tỏa, mang lại hiệu quả và tăng vòng quay tiền trong nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng có thêm dư địa gia tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn sau khi Thông tư số 25/2026/TT-NHNN được ban hành, nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng từ đầu quý III/2026.

Việc loại trừ đích danh 18 dự án hạ tầng trọng điểm của 3 tập đoàn tư nhân với nhu cầu vốn hơn 750.000 tỷ đồng khỏi room tăng trưởng tín dụng là động thái chưa từng có tiền lệ, cũng phần nào lý giải sự cần thiết của việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40%.

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, việc nới giới hạn này giúp giải tỏa áp lực lên bảng cân đối, tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, cho phép các ngân hàng kéo dài kỳ hạn cho vay và qua đó hỗ trợ NIM.

Chia sẻ gần đây, bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, thời gian qua, các ngân hàng buộc phải tăng huy động từ nền kinh tế nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vốn của các dự án vay dài hạn. Vì vậy, kỳ vọng việc nới các chỉ tiêu sẽ mở rộng dư địa cho vay, đặc biệt đối với các dự án trung và dài hạn.

Cùng chung quan điểm, bà Vũ Diệu Hà - chuyên viên phân tích Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) cho rằng, việc nới trần tỷ lệ cho phép các ngân hàng gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với chi phí cao hơn đáng kể và cải thiện NIM.

Cùng với đó, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực.

Nới tỷ lệ lên 40% chỉ là “cú hích” ngắn hạn

Nhìn lại dữ liệu lịch sử, thống kê từ Chứng khoán Yuanta cho thấy, tỷ trọng cho vay dài hạn từng duy trì ở mức 34 - 35% trong giai đoạn 2019 - 2022 và đạt đỉnh 35% vào quý II/2020. Do đó, mức 33,1% trong quý II/2026 thực chất là sự trở lại vùng trước năm 2023.

Dù vậy, nhóm phân tích cho rằng, tốc độ gia tăng cho vay dài hạn hiện khó duy trì lâu dài, bởi một trong những động lực chính đến từ việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40%.

“Chúng tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng, đồng nghĩa với việc tỷ lệ này có thể sẽ được điều chỉnh giảm trở lại mức 30% khi điều kiện thị trường cho phép” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Vì vậy, chính sách hiện tại chủ yếu tạo cú hích ngắn hạn, biện pháp hỗ trợ tạm thời cho tăng trưởng tín dụng và NIM, thay vì động lực tăng trưởng có thể duy trì bền vững.

Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng lưu ý rằng, xu hướng đẩy mạnh cho vay trung dài hạn cũng làm gia tăng áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn. Bởi nhiều thống kê cho thấy khoảng 80% tiền gửi huy động có kỳ hạn dưới 1 năm, trong khi tỷ trọng các khoản cho vay trung, dài hạn ngày càng lớn.

Tại một ngân hàng trong hệ thống có dư nợ vượt 1 triệu tỷ đồng, sự chênh lệch kỳ hạn khá rõ nét khi các khoản cho vay từ 1 năm trở lên chiếm 45,5% tổng dư nợ, trong khi tiền gửi cùng kỳ hạn chỉ chiếm 2,2%.

Khoảng cách lớn giữa kỳ hạn huy động và cho vay cho thấy sức ép lệch kỳ hạn đáng kể, đòi hỏi các ngân hàng phải thận trọng hơn trong quản trị thanh khoản, cân đối nguồn vốn và kiểm soát rủi ro kỳ hạn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

(TBTCO) - Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động lan rộng. Khảo sát ngày 21/10 ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng hạ lãi suất kỳ hạn 12 tháng, mức giảm sâu nhất tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng", ước chiếm 3 - 5% dư nợ cho vay các ngân hàng, thay vì giảm đại trà.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30