“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
aa
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ “nóng” cuộc đua cạnh tranh thị phần Thị trường bảo hiểm nhân thọ “sáng dần”, song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn “rùa bò”

Thu gần 8.000 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, Bảo Việt áp đảo, PTI tăng gấp đôi

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính tiếp tục là nguồn đóng góp lớn vào kết quả kinh doanh của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết trong nửa đầu năm 2026.

Tổng lợi nhuận tài chính của 13 doanh nghiệp khảo sát đạt 7.930,4 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ, tương ứng tăng thêm hơn 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, bức tranh phân hóa khá rõ, khi phần lớn doanh nghiệp duy trì tăng trưởng, trong khi BIC và BSH ghi nhận mức giảm sâu.

Cũng cần lưu ý rằng, khi so sánh giữa các doanh nghiệp, Bảo Việt có đặc thù riêng khi hoạt động đồng thời ở cả mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, qua đó, Tập đoàn sở hữu danh mục đầu tư tài chính lớn hơn đáng kể.

Đồ họa: Ánh Tuyết

“Khác với nghiệp vụ phi nhân thọ có nguồn lợi nhuận chính dựa trên kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng năm, khối bảo hiểm nhân thọ có hai cột trụ, đó là nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm và nghiệp vụ đầu tư tài chính. Trong đó, mảng đầu tư tài chính là nguồn lợi nhuận chính với ưu thế về nguồn vốn trung và dài hạn được cung ứng từ doanh thu phí bảo hiểm”.

Ông Nguyễn Đức Thắng
- Chủ tịch GAMA Global-Vietnam

Theo ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải ưu tiên tính thanh khoản, thậm chí có doanh nghiệp gần như dồn toàn lực vào ngân hàng, phản ánh đúng yêu cầu phải đảm bảo khả năng chi trả bồi thường nhanh chóng và liên tục.

“Một số doanh nghiệp có mức độ đa dạng hóa cao hơn, đầu tư hạn hữu vào cổ phiếu, nhưng tỷ trọng này vẫn rất nhỏ để tránh rủi ro biến động thị trường” - ông Thắng nêu quan điểm.

Với đặc thù trên, Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục áp đảo, đạt 6.196 tỷ đồng lợi nhuận tài chính trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 17% so với cùng kỳ. Danh mục đầu tư cuối quý II/2026 đạt 297.244,4 tỷ đồng, tăng 22,9%, trong đó đầu tư dài hạn tăng 39,2%, nâng tỷ trọng lên khoảng 58%.

Sau Bảo Việt, PVI đứng thứ hai về lợi nhuận tài chính với 504,2 tỷ đồng, tăng 10,7%; còn Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) đạt 257,1 tỷ đồng, tăng 21,6%.

Ở nhóm quy mô lợi nhuận tài chính nhỏ hơn, tốc độ tăng trưởng lại nổi bật hơn. PTI ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm, tới 101,9%, đưa lợi nhuận tài chính lên 91,6 tỷ đồng, tức hơn gấp đôi cùng kỳ. Bên cạnh đó, Bảo hiểm DBV tăng 63,4% lên 108,4 tỷ đồng; PJICO tăng 52,7% lên 70,6 tỷ đồng...

Ở chiều ngược lại, BSH ghi nhận lợi nhuận tài chính 6 tháng đầu năm chỉ còn 26 tỷ đồng, giảm tới 76,2% so với cùng kỳ, cũng là mức giảm mạnh nhất trong nhóm khảo sát. Diễn biến này đi cùng sự thu hẹp của danh mục đầu tư tài chính.

Tại thời điểm cuối quý II/2026, tổng các khoản đầu tư tài chính của BSH còn 2.233,5 tỷ đồng, giảm 13%.

Danh mục đầu tư của BSH cuối quý II/2026 cho thấy sự dịch chuyển mạnh từ ngắn hạn sang dài hạn. Theo đó, khoản mục đầu tư ngắn hạn của BSH giảm gần một nửa, còn 1.113,4 tỷ đồng; trong khi khoản mục đầu tư dài hạn tăng hơn 3,5 lần, lên 1.040,7 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi. Chứng khoán kinh doanh cũng giảm 34,7%; cùng 386,6 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp dài hạn cuối quý I không còn được ghi nhận.

Đằng sau “kho” đầu tư 367.000 tỷ đồng của doanh nghiệp bảo hiểm

Danh mục đầu tư của Tập đoàn Bảo Việt cho thấy sự đa dạng hóa danh mục, từ tiền gửi, trái phiếu đến cổ phiếu và góp vốn..., tạo nguồn thu đáng kể cho hoạt động tài chính, đồng thời duy trì thận trọng trước biến động giá cổ phiếu và một số khoản tiền gửi quá hạn.

Trong đó, tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi chiếm 56,6%; trái phiếu Chính phủ chiếm 24,7% và trái phiếu doanh nghiệp chiếm 15,5% tổng danh mục.

Doanh nghiệp bảo hiểm “rót” hơn 367.000 tỷ đồng vào đầu tư, thu gần 8.000 tỷ đồng lợi nhuận tài chính
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận. Ảnh minh họa.

Ở nhóm cổ phiếu, khoản đầu tư vào cổ phiếu FPT của Tập đoàn Bảo Việt tăng hơn 3,5 lần lên 440,9 tỷ đồng sau nửa năm; đầu tư vào cổ phiếu VietinBank đạt 419,8 tỷ đồng; đầu tư vào cổ phiếu ACB lớn nhất với 815,5 tỷ đồng; Vinamilk giảm còn 351,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Bảo Việt cũng đầu tư đáng kể vào Bảo Việt Bank, Trung Nam Phú Quốc, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam...

Thông tin từ Bảo Việt cho thấy, Tập đoàn chủ động điều chỉnh cơ cấu danh mục theo hướng gia tăng tỷ trọng tiền gửi, nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư ngắn hạn, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ chi trả quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng.

Về định hướng đầu tư năm nay, đại diện Bảo Việt cho biết, tiếp tục nghiên cứu và thúc đẩy đầu tư hoàn thiện hệ sinh thái; đầu tư vào những lĩnh vực tiềm năng gắn liền với hoạt động kinh doanh cốt lõi của Tập đoàn; đầu tư ra nước ngoài khi có cơ hội tốt.

Về phía PVI, ông Trần Duy Cương - Kế toán trưởng Công ty cổ phần PVI cho biết, với hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông thường, biên lợi nhuận ở mức 5% là phù hợp. Để có sự bứt phá, phải sử dụng hiệu quả hoạt động đầu tư.

Theo ông Cương, tốc độ tăng trưởng tổng lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính của PVI khoảng 10%, khá phù hợp với tốc độ tăng của nguồn vốn và lãi suất.

“Quan điểm phân bổ danh mục dựa trên nguyên tắc thận trọng, đặc biệt ưu tiên thanh khoản, bởi hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, thanh khoản là ưu tiên quan trọng nhất. Thứ hai là an toàn, bởi khẩu vị đầu tư, khẩu vị rủi ro của chúng tôi khá khắt khe, nhưng yêu cầu lợi nhuận cũng phải cao hơn mặt bằng chung” - ông Cương lý giải.

Ngoài tiền gửi, PVI chọn lọc đối tác thông qua quy trình đánh giá rủi ro, xếp hạng tín nhiệm định kỳ của Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVI AM). PVI AM cũng mở rộng khách hàng cá nhân qua các quỹ PVI Infinity, nhằm đa dạng nguồn vốn và bổ sung nguồn thu bền vững.

Xét về phân bổ, danh mục đầu tư tài chính của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cuối quý II/2026 đạt 367.005,2 tỷ đồng, tăng 20,6%. Sau Bảo Việt, PVI đạt 19.784,6 tỷ đồng; BIC, VINARE và MIC đều duy trì quy mô trên 6.000 tỷ đồng.

Xét về tốc độ tăng trưởng, DBV tăng mạnh nhất, đạt 31,6%; MIC tăng 27,9%; Bảo Việt tăng 22,9% và PJICO tăng 22,1%.

Phần lớn doanh nghiệp còn lại cũng mở rộng danh mục, trong khi BSH là trường hợp duy nhất suy giảm, giảm 13%, xuống 2.233,5 tỷ đồng.

Đáng chú ý, tỷ trọng đầu tư ngắn hạn toàn nhóm giảm từ 55,1% xuống 47,8%, cho thấy dòng vốn đang dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn nhằm “khóa” mức lãi suất tiền gửi đang ở mức cao trong thời gian dài hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30