Mở rộng không gian để doanh nghiệp tư nhân bứt phá
PV: Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, theo ông, đâu là những chuyển biến rõ nét nhất?
![]() |
| Ông Bùi Anh Tuấn |
Ông Bùi Anh Tuấn: Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, theo tôi, chuyển biến quan trọng nhất là Nghị quyết đang từng bước chuyển từ một thông điệp chính trị mạnh mẽ thành những thay đổi cụ thể trong môi trường kinh doanh và hành vi đầu tư của doanh nghiệp.
Sự thay đổi về tư duy đã được chuyển hóa khá nhanh thành thể chế. Nhiều nhiệm vụ theo kế hoạch hành động của Chính phủ dự kiến hoàn thành trong năm 2026 đã được đẩy nhanh trong năm 2025; đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành gần 20 luật, 1 nghị quyết và ban hành khoảng 25 nghị định để cụ thể hóa các chủ trương của Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Điều đáng chú ý hơn là một phần kết quả cải cách đã có thể lượng hóa. Đến nay đã cắt giảm 697 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 673 thủ tục và cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết; thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm 53%, chi phí tuân thủ giảm 54,6% so với năm 2024. Riêng 11 nghị quyết về phân quyền, phân cấp, cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh được ban hành trong năm 2026 dự kiến giúp giảm khoảng 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Một chỉ số khác rất quan trọng là niềm tin đang được chuyển hóa thành quyết định kinh doanh. Từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới. Cả năm 2025 có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024; 7 tháng năm 2026 tiếp tục có hơn 187.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, đưa tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên hơn 1,066 triệu doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, chúng ta không nên chỉ nhìn vào số lượng doanh nghiệp đang hoạt động mà quan trọng hơn là “sức khỏe” và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Điều này càng quan trọng khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số với mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
![]() |
| Giai đoạn 2026 - 2030 sẽ đánh dấu một sự chuyển dịch căn bản về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: An Thư |
PV: Một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Nghị quyết số 68-NQ/TW là phải hỗ trợ thực chất doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Theo ông, các chính sách hỗ trợ DNNVV cần được đổi mới như thế nào để khu vực này thực sự lớn mạnh, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?
Ông Bùi Anh Tuấn: Để khắc phục những hạn chế và thúc đẩy khu vực DNNVV phát triển đúng với tiềm năng, vị trí và thể chế hóa quan điểm của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 68-NQ/TW, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi), trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp tháng 10/2026. Quá trình đánh giá tổng kết 8 năm thi hành Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 và tham vấn ý kiến cộng đồng doanh nghiệp đối với dự án Luật cùng với ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ Tài chính đã đề xuất trình Chính phủ nâng cấp và đổi tên Luật thành Luật Phát triển DNNVV.
Luật Phát triển DNNVV được xây dựng theo hướng lấy DNNVV làm trung tâm của chính sách, lấy quá trình phát triển, trưởng thành, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp làm mục tiêu. Nhà nước tập trung kiến tạo hệ sinh thái và các điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp chủ động phát triển. Các chính sách hỗ trợ được thiết kế có trọng tâm, trọng điểm, theo nhu cầu và vòng đời phát triển của doanh nghiệp.
Khu vực kinh tế tư nhân trở thành chủ thể kiến tạo tăng trưởngTheo ông Bùi Anh Tuấn, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ đánh dấu một sự chuyển dịch căn bản về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân - từ một khu vực cần được hỗ trợ trở thành chủ thể kiến tạo tăng trưởng, một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. |
Các chính sách tập trung vào các giải pháp để hỗ trợ khơi thông các điểm nghẽn thực chất nhất của DNNVV, đặc biệt là về vốn, mặt bằng, công nghệ và thị trường. DNNVV tham gia chuỗi giá trị tiếp tục là một trong bốn đối tượng trọng tâm ưu tiên hỗ trợ của Luật. Theo đó, các chính sách cho nhóm DNNVV này tập trung vào nâng cao năng lực đáp ứng thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ, sản xuất thông minh, qua đó tham gia sâu hơn, bền vững hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng chuyển tư duy từ Nhà nước trực tiếp cung cấp hỗ trợ sang Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái và dẫn dắt nguồn lực cho doanh nghiệp. Một hệ sinh thái hỗ trợ phát triển DNNVV sẽ từng bước được hình thành đồng bộ, toàn diện để kết nối các nguồn lực hỗ trợ DNNVV phát triển.
Thước đo quan trọng nhất của Luật Phát triển DNNVV không còn nằm ở việc đánh giá số lượng DNNVV được nhận hỗ trợ mà chuyển sang đánh giá mức độ trưởng thành, chuyển đổi sang quy mô lớn hơn cũng như sự cải thiện năng suất, năng lực cạnh tranh, làm chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các DNNVV.
PV: Ông kỳ vọng như thế nào về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn 2026 - 2030 và đâu sẽ là những không gian mới để doanh nghiệp tư nhân bứt phá?
Ông Bùi Anh Tuấn: Tôi nhìn thấy ba không gian phát triển rất lớn cho khu vực tư nhân trong giai đoạn tới.
Trước hết là không gian của công nghệ và những phương thức sản xuất mới. Kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ cao, công nghiệp chế tạo tiên tiến, năng lượng tái tạo, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn đang tạo ra những thị trường và mô hình kinh doanh hoàn toàn mới. Cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam không nên chỉ dừng ở ứng dụng hay tiếp nhận công nghệ, mà phải từng bước đầu tư cho R&D, làm chủ công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hình thành năng lực sản xuất mới.
Không gian thứ hai đến từ chính sách phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam. Khu vực tư nhân có nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng, dự án quan trọng quốc gia và các lĩnh vực chiến lược như đường sắt, năng lượng, hạ tầng số, giao thông xanh và công nghiệp công nghệ cao. Trong khi đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân thì sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân sẽ vừa huy động thêm nguồn lực xã hội, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tích lũy năng lực, công nghệ và kinh nghiệm thực hiện các dự án quy mô lớn, trọng điểm.
Không gian thứ ba, và theo tôi có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tăng trưởng, là sự dịch chuyển lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp Việt Nam cần từng bước chuyển từ gia công, cung ứng đơn giản sang thiết kế, công nghệ, sản xuất có giá trị gia tăng cao, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối; đồng thời tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để đạt được mục tiêu này, cần thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Trong hệ sinh thái liên kết các doanh nghiệp, DNNVV cần được tạo điều kiện để lớn lên, doanh nghiệp lớn phải có khả năng dẫn dắt, hình thành chuỗi cung ứng nội địa và kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ hơn.
Tôi tin rằng khi Nhà nước mở rộng không gian, khơi thông nguồn lực và tạo niềm tin để doanh nghiệp đầu tư dài hạn; khu vực kinh tế tư nhân sẽ thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất đưa Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mới.
PV: Xin cảm ơn ông!



